(Viết nhân kỷ niệm 57 năm ngày thành lập trường Đại học hàng hải VN 1.4.1956 – 1.4.2013).

                                                         Thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh

                                                             Chủ tịch CLB Thuyền tưởng Việt nam

                                                             Nguyên Phó chủ nhiệm khoa Hàng hải,

                                                         Nguyên Chủ nhiệm khoa Tại chức Bổ túc

                                                         Trường Đại học Hàng hải VN

Sau khi cho kiểm tra lần cuối cùng tất cả các công việc lắp ráp điều chỉnh và chuẩn bị cho thiết bị ra đa “Đon-nét 2” hoạt động, tôi yêu cầu một thầy giáo cùng bộ môn bật công tắc nguồn. Chiếc Anten, đặt trên cây cột cao bên cạnh phòng thí nghiệm, bắt đầu quay đền đều cùng với tia quét hiện lên trên màn hình. Tôi thực hiện vài chỉnh định “Điều hưởng” và “ Độ lợi”, nhiều đốm sáng lăn tăn xuất hiện mỗi lần tia điện tử quét qua, hình ảnh Cầu rào và dòng sông Lạch Tray bên cạnh trường bắt đầu hiện lên cùng với một vài mục tiêu xa xa. Tất cả chúng tôi đồng loạt vỗ tay hò reo thích thú và cười vui rộn rã. Nổi niềm hạnh phúc và sung sướng tràn ngập trong lòng mỗi thầy giáo trẻ và một số học viên có mặt. Đó là kết quả của bao nhiêu tháng trời mày mò lắp ráp, sửa chữa, tìm phụ tùng thay thế, khó khăn nhất là tìm được bộ phát cao tần magnetron thay cho cái cũ đã bị hư hỏng do ẩm ướt khi thiết bị di chuyển nhiều lần trước khi nhà trường từ số 8 Đường Trần Phú chuyển về Lạch tray Cầu Rào vào năm 1964. Ngày nay thì đó là một việc “nhỏ”, việc lắp ráp các trang bị hiện đại, luôn luôn có các nhà cung ứng / chế tạo ở ngay bên cạnh.

Bây giờ với một máy vi tính xách tay, bất cứ lúc nào bạn cũng có thể xem mô phỏng màn hình ra đa hoạt động. Nhưng cách đây nửa thế kỷ, đối với các thầy giáo trẻ, việc tự lắp ráp và cho hoạt động thành công một ra đa cũ kỹ là một kỳ tích. Qua bao nhiêu năm tháng chỉ giảng dạy lý thuyết và “thực hành” trên trên bản vẽ sơ đồ mạch điện chằng chịt với những đèn điện tử, điện trở, tụ điện, đường dây..., mãi đến hôm ấy các thầy giáo và học viên mới nhìn thấy tận mắt lần đầu tiên màn hình ra đa đang hoạt động với đầy đủ hầu hết các tính năng của nó.

Có thể nói rằng đó là phòng thí nghiệm sống đầu tiên tuy rất khiêm tốn của Trường Hàng hải Việt nam, là một quá trình chuyển đổi từ phòng thực hành chỉ có trưng bày mô hình sang một phòng thí nghiệm trên máy đang hoạt động, là kết quả sau nhiều năm triển khai thực hiện chủ trương giảng dạy kết hợp với thực tiển sản xuất của đảng ủy nhà trường đứng đầu là ông Hiệu trưởng kiêm Bí thư đảng ủy Lê Văn Cường, một nhà lão thành cách mạng. Hoạch định kế hoạch thực hiện chủ trương này là Ông Hiệu phó phụ trách chuyên môn Thuyền trưởng Nguyễn Văn Quế, người lãnh đạo kiêm thầy giáo chuyên môn mà nhiều thế hệ thuyền trưởng sau này vẫn mãi mãi nhắc tới như một người thầy đầy sáng tạo và tấm gương của một thuyền trưởng mẫu mực (vào lúc đó Ông phụ trách giảng dạy môn thiên văn hàng hải).

Để thực hiện thành công một công việc tưởng chừng đơn giản ấy cho một trường đào tạo thuyền viên đầu tiên sau khi Miến Bắc giải phóng, chúng tôi đã phải vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại. Vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, khi lưu học từ nước ngoài trở về, tôi được cử về trường làm công tác giảng dạy. Về đến trường còn chân ướt chân ráo, Ông Hiệu phó gọi tôi lên phòng làm việc, giao ngay cho tôi nhiệm vụ triển khai bộ môn máy móc vô tuyến hàng hải và bắt tay xây dựng phòng thí nghiệm thiết bị kỹ thuật hàng hải.

Tôi bắt đầu biên soạn giáo trình kỹ thuật điện cơ bản, giáo trình nguyên lý vô tuyến dùng cho ngành boong, viết đề cương, soạn chương trình, bắt tay giảng dạy thí điểm từ khóa một và chính thức đưa vào chương trình giảng dạy môn máy móc vô tuyến hàng hải từ khóa 2. Sau đó, môn học máy móc điện hàng hải do Ông Nguyễn Minh Thuyết lưu học từ nước ngoài về cũng được triển khai. Đó là lần đầu tiên bộ môn “Hàng hải kỹ thuật” theo tên gọi ngày nay, được giảng dạy tại trường từ khi trường được thành lập.

Tuy nhiên, công việc khó khăn nhất lúc này vẫn là làm sao triển khai giảng dạy kỷ năng thực hành bộ môn này cho học sinh trong điều kiện đất nước còn quá nghèo sau chiến tranh, lấy tiền đâu ra để mua thiết bị xây dựng phòng thí nghiệm ?

Đầu tiên, cùng với các bộ môn khác, cứ mối lần có tàu của Liên xô đến cảng Hải phòng, chúng tôi lại lên tàu xin các phụ tùng thiết bị cũ như ống phóng điện tử, magnetron, bóng đèn điện tử, ống dẫn sóng…, đem về trưng bày ở phòng thí nghiệm. Mặt khác chúng tôi xin được mua một vài máy thu thanh cũ đem về hồi phục lại cho học sinh học nguyên lý máy thu phát vô tuyến. Đặc biệt, chúng tôi kiếm được một quả cầu của la bàn con quay “Kuors 4” bị thải bỏ đem về cưa ra để học sinh có thể nhìn tận mắt kết cấu hai con quay và bình chất lỏng thông nhau bên trong để giảng dạy cho học sinh.

 thumb 20130321 image001

Hc sinh khóa 1963 lớp 6311 Trưng Hàng hi Hi phòng

Trong những ngày khó khăn ấy, có những kỷ niệm cười ra nước mắt. Một lần, lên con tàu Việt nam, sau khi xem máy vô tuyến định hướng của Cộng hòa dân chủ Đức lắp ráp trên buồng lái, tôi hỏi thuyền trưởng mượn cuốn “Hướng dẫn sử dụng vô tuyến định hướng ” để chép lại làm tài liệu hướng dẫn thực hành (ngày ấy làm gì có khái niệm phô tô). Một câu trả lời như một gáo nước lạnh dội lên đầu, thuyền trưởng (cũng lưu học từ nước ngoài trở về) trả lời rằng đó là tài liệu bí mật quốc gia, không ai được tiếp cận trừ thuyền trưởng. Ai cũng biết rằng máy vô tuyến định hướng của Đức cùng với “Sách hướng dẫn” thời điểm đó đã bán khắp nơi trên thế giới. Lần khác, một giáo viên phụ trách phòng thí nghiệm do sơ suất khi hướng dẫn thực hành đã để mất cắp hai bóng đèn điện tử. Thế là bị kiểm điểm, và bị kéo dài thời gian kết nạp đảng thêm hai năm…

Sau những khó khăn tưởng chừng khó vượt qua, việc trang bị thiết bị đồng bộ cho phòng thí nghiệm thực hành bước đầu đã được thực hiện. Trong một lần họp ở Bộ GTVT tôi nhận được thông tin có một thiết bị ra đa của Liên xô sau khi đem triển lãm kỹ thuật ở Hà nội, bạn để lại và được tồn kho tại một kho lưu trữ của Cục vật tư Bộ Giao thông vận tải . Sau nhiều thủ tục khá phiền hà, tôi đã tiếp cận thiết bị tại kho. Đó là thiết bị “Đon-nét 2”, một loại ra đa trang bị cho tàu cỡ nhỏ. Mừng như bắt được vàng, thiết bị còn khá tốt, mặc dù bị bụi bám, mạng nhện giăng khắp, mốc meo, nhưng có thể dùng làm giáo cụ cho học viên. May mắn, mọi thủ tục “xin cho” đều trôi chảy, thiết bị được chuyển về trường. Rồi sau đó trường chuyển về Lạch Tray và thiết bị được lắp ráp cho hoạt động như nói ở trên. Tiếp theo thiết bị ra đa, một số thiết bị khác cũng được nhà nước đầu tư và lắp ráp tại phòng thí nghiệm như máy đo sâu, la bàn con quay.

Các bộ môn khác cũng triển khai việc dạy thực hành kết hợp với lý thuyết khá thành công. Bộ môn “hàng hải địa văn” (bây giờ thì người ta gọi đó là môn “Hàng hải học” vì thuật ngữ “địa văn” mang ý nghĩa hạn hẹp khi ngày xưa chủ yếu xác định vị trí bằng mục tiêu lục địa, chưa có các phương pháp xác định vị trí vô tuyến, GPS…) đã triển khai một phòng hải đồ có gần 35 bàn tác nghiệp, có đủ hải đồ và dụng cụ tác nghiệp cho từng bàn. Thực hành tác nghiệp hải đồ được bắt đầu từ bài tập đơn giản nhất cho từng học sinh là xác định kinh vĩ của một điểm đã cho và bài tập tiếp theo là biết kinh vĩ, tìm một điểm trên hải đồ, dần dần thầy giáo ra những bài tập phức tạp hơn như kẻ đường đi, xác định hướng đi giữa hai điểm hoặc nhiều điểm, ảnh hưởng của gió nước, …Ngày ấy chưa có khái niệm lập kế hoạch tỷ mỷ cho cả một hải trình từ cầu cảng đến cầu cảng mà chỉ chạy đến đâu kẻ hải đồ đến đó. Các bộ môn thông hiệu, luật tránh va, thuyền nghệ …cũng có phát triển các mô hình tự tạo để phục vụ cho giảng dạy.

Ngoài ra, để học viên làm quen với biển cả, sóng nước, hàng năm cứ đến mùa hè, theo kế hoạch thực tập, dưới sự chỉ đạo của thầy Quế Hiệu phó, thầy trò chúng tôi theo con tàu 80 mã lực chạy ra Cát hải cùng nhau rèn luyện kỹ năng sử dụng sextant, nhận dạng bầu trời sao, đo hướng ngắm mục tiêu, nhận dạng phao tiêu, nhìn những con tàu ra vào bến cảng… Thầy trò cùng nhau ngụp lặn, làm quen với sóng nước mà tương lai cả cuộc đời người hải viên sẽ gắn liền với nó.

Khái niệm giảng dạy lý thuyết kết hợp nhuần nhuyển với kỹ năng thực hành đã được chúng tôi thực hiện từ ngày ấy trong những điều kiện vô cùng thiếu thốn. Việc học thực hành rèn luyện kỹ năng đã được coi trọng ngay từ khi thành lập trường hàng hải vào đầu thập niên 60 thế kỷ trước như vậy đó.

Nhân kỷ niệm thành lập trường, viết lên những dòng này, lòng tôi bồi hồi nhớ lại đồng nghiệp, các thầy giáo thời kỳ ban đầu của Trưởng Trung cấp Hàng hải, những người đã mãi mãi xa chúng ta như Bác Cường Hiệu trưởng giảng dạy bộ môn chính trị, bác Tiên Hiệu phó, anh Quế dạy thiên văn, anh Vượng dạy địa văn, anh Cấp dạy máy móc điện hàng hải, anh Mạnh dạy thuyền nghệ, bác Sáu Vàng dạy thực hành máy, bác Châu dạy nguội rèn và nhiều thầy giáo khác … Đó là những con người đầy tâm huyết trong giáo dục đào tạo thuyền viên, bất chấp nghèo khó, thiếu thốn, đã cộng tác cùng nhau đào tạo ra một đội ngũ thuyền viên, những con người chịu khó học tập, giỏi kỹ năng thực hành, dũng cảm, mưu trí đã cống hiến tuổi trẻ và cả xương máu trên đội tàu Giải phóng và Tự lực, tham gia hải quân nhân dân VN, vận chuyển lương thực và vũ khí, chiến đấu phục vụ sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và cũng chính họ đã đóng góp công sức cho sự phát triển ngành vận tải biển non trẻ của đất nước thời kỳ ban đầu sau khi miền bắc giải phóng.

Ngày nay, Công ước và Bộ luật STCW 95, sửa đổi 2010, mà Việt nam là thành viên, đòi hỏi thuyền viên không những giỏi lý thuyết mà còn phải được đào tạo huấn luyện năng lực và kỹ năng tay nghề thành thạo để tránh sai sót của con người khi hoạt động trên biển, đảm bào an toàn cho sinh mạng, con tàu và tài sản, bảo vệ môi trường biển, nguồn sống bất diệt của nhân loại. Trên nền tảng lý thuyết, năng lực và kỹ năng thực hành là tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo thuyền viên ở bất kỳ trình độ độ đại học, cao đẳng hay trung học, cho tất cả sỹ quan cấp quản lý, vận hành và tất cả thuyền viên. Để đạt được mục tiêu đó, trước hết người thầy phải được bồi dưỡng, và tự rèn luyện kỹ năng, ít nhất, của môn học mình chịu trách nhiệm. Sự hỗ trợ của trang thiết bị hiện đại khá đồng bộ ở các trường hàng hải ngày nay chỉ mang lại hiệu qủa trên cơ sở phát huy cái tâm và cái tầm của người thầy.

                                                                                                                                         TVK