VẬN CHUYỂN QUẶNG NIKEL RỜI

Thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh

Quặng nickel rời thuộc loi hàng hóa nhóm A (IMSBC), có thể hóa lng, cần đặc biệt lưu ý những điều sau đây khi vận chuyển trên tàu biển:

 

1. Quặng thường được bốc xếp lên các sà lan và chuyển đến các tàu chở hàng rời, mặc dù hàng hóa được giao để vận chuyển trông có vẻ khô, nhưng không có gì chắc chắn là khi vận chuyển hàng hóa đó không hóa lỏng và có an toàn hay không.

2. Cũng giống như rất nhiều quặng cám/mn bao gồm cquặng tinh, quặng nickel có thể hóa lng và dch chuyển nếu mức độ ẩm cố hữu ca nó quá lớn. Vì ri ro hóa lng này, việc chuyên chở quặng nickel phi tuân thủ các điều khon ca SOLAS và Luật Vận Chuyển Hàng Rời Rắn Bằng Đường Biển Quốc Tế (IMSBC) liên quan đến việc kiểm định và chứng nhận hàng hóa dễ bhóa lng (ri ro "Nhóm A").

Công ty chtàu và các Thuyền trưởng dự tính vận chuyển quặng nickel nên nghiên cứu kỹ Quy Định 2, Chương VI của SOLAS và các Phần 4, 7,8 ca Bộ Luật IMSBC.

 

3. Các chhàng quặng nickel phi xuất trình giấy chứng nhận, trước khi bắt đầu bốc xếp hàng:

TML ca hàng hóa quặng nickel cần được xác định bởi một phòng thí nghiệm có thẩm quyền để xác định hàm lượng độ ẩm mà vật liệu sbắt đầu hóa lng gi là điểm hóa lỏng (FMP). TML được tính bằng 9/10 của FMP, (nghĩa là cho biên độ an toàn là 10%. Các quy trình kiểm định đã được chấp thuận được trình bày trong PhLc 2 ca Bộ Luật IMSBC. Hàng hóa chcó thể được vận chuyển nếu hàm lượng độ ẩm thực tế nhỏ hơn TML.

4. Cần nghiên cứu các giải pháp sau đây:

Sự thiếu tính đồng nhất rất nghiêm trng ca quặng nickel dẫn đến tình trng phần lớn hàng hóa có thể không an toàn ngay ckhi mẫu kiểm định đại diện được cho kết qulà thoả mãn. Điều này li càng phức tp bởi thực tế là kiểm định FMP/TML có thể cho các kết quả không rõ ràng đối với loi hàng hóa này, và các nhân viên ca phòng thí nghiệm có thể thiếu trình độ và kinh nghiệm để thuyết minh các kết qumột cách phù hợp theo Bộ Luật IMSBC.

 

Vì vậy cố gắng thực hiện các yêu cầu:

1) Bộ Luật IMSBC yêu cầu hàm lượng độ ẩm ca hàng hóa trong mỗi hầm hàng phải được xác định và chứng nhận riêng. Điều này phải được tiến hành trước khi bốc xếp hàng.

Nếu sự biến đổi của hàm lượng độ ẩm lớn hơn sự chênh lệch giữa TML và FMP (tức là lớn hơn 1/10 của FMP), tức là biên độ an toàn được quy định trong Bộ Luật IMSBC đã bị vượt quá định mức và một bộ phận hàng hóa có thể skhông an toàn. Trong trường hợp như vậy, Bộ Luật IMSBC khuyến nghrằng phần hàng hóa ẩm hơn đó sẽ phi btừ chối.

Bộ Luật IMSBC còn quy định rằng nếu có mưa hay tuyết đáng kể giữa thời gian kiểm định và bốc xếp hàng thì cần phi tiến hành kiểm định lại để đảm bo rằng hàm lượng độ ẩm ca hàng hóa vẫn thấp hơn TML. Khoảng thời gian giữa lấy mẫu/kiểm định và bốc xếp hàng skhông bao giờ được quá by ngày.

Luật IMSBC cũng yêu cầu các người gửi hàng phải để toàn bộ hàng hóa trong kho và sẵn sàng để lấy mẫu và kiểm tra trước khi có bất ksự bốc xếp đống hàng hàng nào xuống tàu.

Một số người gửi hàng vận chuyển vật liệu trực tiếp từ mtrong quá trình bốc xếp hàng xuống tàu. Cách làm này trái với các quy định ca Bộ Luật IMSBC và các con số FMP/TML/độ ẩm ghi trên các giấy chứng nhận kiểm định của người gửi hàng khó có khả năng chính xác trong các điều kiện như vậy.

 

2) TML ca các hàng hóa quặng nickel cần phải được xác định bằng cách sử dng các mẫu đại diện được lấy một cách hệ thống. Nên thử nhiều mẫu khác nhau, sử

dng nhiều khoang, kho, và/hoặc hầm để đánh giá được sự thay đổi của TML đối với vật liệu được vận chuyển. Tuy nhiên, Bộ Luật IMSBC không có yêu cầu rõ ràng phi làm như vậy.

 

3) Lý tưởng nhất, cần phi có sự hiện diện ca chuyên gia ti hiện trường để thực hiện việc kiểm tra mẫu và các quy trình để xác định chứng nhận mà người gửi hàng đưa ra có đáng tin cậy hay không. Tuy nhiên điều này khó thực hiện.

 

4) Mc 8.4 ca Bộ Luật IMSBC mô tả phương pháp sử dng một loi dng ctrên tàu gọi là “hộp kiểm định" để kiểm tra xem hàng hóa có được chấp nhận để vận chuyển không. Kiểm định bằng “hộp” thực hiện bằng cách đổ đầy hàng hóa vào một cái hộp nhỏ và gõ đi gõ lại bằng một vật cứng xem hàng hóa có bhóa lng hay bị ẩm hay không. Nếu kiểm định bằng “hộp" được thực hiện đối với hàng hóa mà được đưa đến để vận chuyển cho thấy xu hướng hóa lỏng, đây là một dấu hiệu khá rõ ràng rằng toàn bộ hàng hóa skhông an toàn khi vận chuyển.Tuy nhiên, chriêng kiểm định bằng “hộp” chưa đảm bo an toàn cho hàng hóa, nó không phải là phương pháp thay thế cho phương pháp kiểm định phòng thí nghiệm phù hợp một phương pháp đã được chấp thuận giữa đôi bên.

 

5) Các công ty và Thuyền trưởng khi bố trí xếp hàng quặng nickel từ các cng Indonesia, New Caledonia hoặc Philippines phải chú ý đảm bo rằng các điều khon rõ ràng được đưa vào trong hợp đồng thuê tàu, hợp đồng vận chuyển hoặc các hợp đồng khác (nếu có) để bo vệ quyền lợi cho mình, và cần phi liên hệ với các bộ phận Ngăn Ngừa Tổn Thất ca P&I Club để được tư vấn thêm về chủ đề này.

Trong lch sử ca ngành vận ti biển nước ta đã xảy ra vchìm tàu Vinalines Queen trong khi chở quặng nikel từ Indonesia về Trung quốc cách nay chưa đầy 7 năm. Vụ chìm tàu đã làm toàn bộ thuyền viên mất tích, chcòn duy nhất một thuyền viên sống sót. Đó là một bài học đau xót và đắt giá.

T.V.K
Tham kh
o:

* Mối nguy hiểm ca việc vận chuyển Quặng Niken từ Indonesia, New Caledonia và Philippines - www.westpandi.com/

* Intercargo Warns of the Dangers of the Carriage of Nickel Ore Cargoes - http://www.intercargo.org/

* Chở quặng nikel, hiểm họa đã được cnh báo (2012) Tiếu Văn Kinh