Hồng Minh - Phóng viên TCHH

Trên cơ sở xem xét toàn diện Công ước quốc tế về tiêu chuẩn đào tạo, chứng nhận và trực ca (STCW) năm 1978/95 cho thuyền viên, hội nghị ngoại giao Manila năm 2010 đã quyết định những sửa đổi quan trọng đối với Công ước này để đáp ứng sự tiến bộ của khoa học công nghệ và sự phát triển ngành công nghiệp vận tải biển toàn thế giới .

Chủ tịch Câu lạc bộ Thuyền trưởng VN, Thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh, đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích liên quan đến lý do và những bổ sung, sửa đổi Manila 2010 của Công ước STCW 78/95 cho Tạp chí HHVN.

1. PV: Thưa Ông, lý do nào dẫn đến việc sửa đổi Công ước STCW 78 vào năm 2010?

Tháng 7 năm 1978 Tổ chức hàng hải quốc tế IMO, lần đầu tiên trong lịch sử thông qua “Công ước Tiêu chuẩn đào tạo, chứng nhận và trực ca”. Công ước có hiệu lực vào tháng 4 năm 1984. Chính phủ nước ta đã phê chuẩn Công ước ngày 18 tháng 3 năm 1991 và trở thành quốc gia thành viên của Công ước.

Từ sau khi được thông qua và có hiệu lực, Công ước STCW đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực, tiêu chuẩn hóa và nâng cao trình độ thuyền viên, kiểm soát một cách có hiệu quả ảnh hưởng của các sự cố trên biển, tăng cường khả năng bảo vệ con người, tài sản trên biển và bảo vệ môi trường biển trên phạm vi toàn cầu, mang lại nhiều ý nghĩa tích cực cho các hoạt động của con người trên đại dương.

Công ước đã trải qua nhiều lần sửa đổi. Sửa đổi Phụ lục STCW vào năm 1995 là lần sửa đổi lớn và toàn diện, đồng thời bổ sung thêm văn bản mới là Bộ luật STCW95 (STCW95 Code).

Những năm đầu của thập niên thứ nhất thế kỷ 21, ngành hàng hải trên toàn thế giới phải đương đầu với nhiều thách thức mới. Cùng với tiến trình toàn cầu hóa, tàu biển hiện nay đang phát triển theo xu hướng trọng tải ngày càng lớn, tốc độ ngày càng cao, chuyên dụng hóa, hiện đại hóa, công nghệ thông tin được áp dụng ngày càng rộng rãi, vận dụng nhiều kỹ thuật mới vào hàng hải như ARPA, hải đồ điện tử ENC, ECDIS, … mở ra nhiều khả năng huấn luyện hiệu quả trên CBT, máy mô phỏng …

Thuyền viên đang thiếu năng lực chuyên môn, cần thay đổi các phương thức đào tạo và huấn luyện hàng hải; nâng cao trình độ chuyên môn đặc thù của thuyền viên ngành công nghiệp dầu khí ngoài khơi; đề cao yếu tố con người, giảm thiểu tai nạn/sự cố. Nạn cướp biển vũ trang đang hoành hành với mức độ đáng lo ngại, đòi hỏi thuyền viên phải được trang bị đầy đủ kiến thức để đối phó hiệu quả.

Cần phải coi trọng các nhân tố về con người trong lao động, tăng cường kiến thức bảo vệ thuyền viên trong điều kiện trên biển, thay đổi cách quản lý và cung ứng thuyền viên hiện nay.

Cần có những biện pháp ngăn chặn sự gian lận, phi pháp trong việc cấp chứng chỉ chuyên môn giả mạo cho thuyền viên và tăng cường quá trình đánh giá, giám sát sự tuân thủ Công ước của các bên đối với Công ước;

Thực trạng hiện nay, Chính quyền hành chính, cơ quan chủ quản thiếu hậu thuẩn tích cực cho việc thực thi STCW, không cập nhật kịp thời những thay đổi.

Trong bối cảnh đó đòi hỏi Công ước Tiêu chuẩn Đào tạo, Chứng nhận và Trực ca STCW cần phải được xem xét toàn diện và bổ sung, nâng cao, dẫn tới sự ra đời của SCTW 78 sửa đổi Manila 2010.

2. PV: Trong các sửa đổi của Công ước thì Ông cho rằng những sửa đổi nào là quan trọng ?

Công ước STCW cấu thành bởi 3 phần gắn liền với nhau: Công ước, Phụ lục Công ước và Bộ luật STCW. Phần nội dung Công ước giữ nguyên, không sửa đổi.

Có nhiểu sửa đổi chi tiết trong Phụ lục và Bộ luật STCW, không thể nói hết trong một bài trả lời phỏng vấn ngắn, chỉ xin nêu vài nét chung nhất.

Trong khoảng thời gian dài IMO đã theo đuổi mục tiêu “ hàng hải càng an toàn hơn, biển cả càng trong sạch hơn” (Safer Shipping, leaner Oceans). Nhưng mục tiêu hiện nay đã sửa thành “hàng hải an toàn, an ninh và hiệu quả cao trên biển sạch” ( Safe, Secure and Efficient Shipping on Clean Oceans). Có thể nhận thấy IMO đã nhận thức hai chủ đề truyền thống cần đặt song song, đó là “an toàn, an ninh” và “phòng ngừa ô nhiễm”, đưa trách nhiệm bảo vệ an ninh vào nội dung đào tạo thuyền viên. Đồng thời, “hàng hải hiệu quả cao” trở thành nội dung mới của mục tiêu mà IMO theo đuổi. IMO đã nhận thức phát triển của khoa học công nghệ là sự đảm bảo kỹ thuật quan trọng để thực hiện “hàng hải hiệu quả cao”. Vì vậy các sửa đổi tập trung vào các tiến bộ khoa học công nghệ; trao đổi thông tin hiệu quả.

Tăng thêm một số chức danh của thuyền viên, quyết định chuyển phần Quản lý nguồn lực buồng lái và

buồng máy BRM, ERM sang yêu cầu bắt buộc trên tàu. Đặc biệt nhấn mạnh việc vận dụng năng lực lãnh đạo, kỹ năng quản lý, kỹ năng làm việc nhóm cho sĩ quan cấp cao và cho thuyền viên.

Nâng cao yêu cầu hệ thống đảm bảo chất lượng trong giáo dục đào tạo thuyền viên, yêu cầu tiêu chuẩn sức khỏe của thuyền viên theo Công ước lao động hàng hải MLC của ILO, cấp giấy chứng nhận sức khỏe;

Các sửa đổi đòi hỏi nâng cao yêu cầu thẩm định việc cấp, chứng thực, thừa nhận giấy chứng nhận; nhấn mạnh trách nhiệm của quốc gia công ước đấu tranh với nạn giấy chứng nhận giả mạo, đặc biệt coi trọng các văn bản làm bằng chứng; xác định cơ quan cấp giấy chứng nhận là chính quyền hành chính. Tăng cường việc kiểm định của IMO đối với các bên của Công ước theo tiêu chuẩn danh sách trắng và nâng cao tính minh bạch của việc trao đổi văn bản;

Yêu cầu các công ty vận tải phải đảm bảo huấn luyện bồi dưỡng và cập nhật kiến thức khi đưa thuyền viên lên tàu làm việc; đảm bảo chắc chắn bất cứ lúc nào thuyền viên trên tàu của họ cũng phải thỏa mãn yêu cầu thông tin bằng khẩu ngữ hiệu quả (effective oral communication).

Nhấn mạnh chính quyền hành chính cần nhận thức mối nguy hiểm của mệt mỏi đối với lao động thuyền viên, xác định thời gian nghỉ ngơi của thuyền viên ít nhất 10 giờ trong 24 giờ; ít nhất 77 giờ trong bất kỳ 7 ngày; giáng cách hai lần nghỉ ngơi không vượt quá 14 giờ, chính quyền hành chính phải yêu cầu thuyền viên ghi chép thời gian nghỉ ngơi hàng ngày theo mẫu tiêu chuẩn để trình kiểm tra (trách nhiệm công ty).

Đó là một số các sửa đổi cơ bản trong STCW Manila 2010 so với STCW 78/95.

3. PV: Ông có thể cho biết nước ta đang triển khai thực hiện Công ước STCW 78 Sửa đổi Manila 2010 như thế nào ?

Vào tháng 7-8.2010, IMO đã công bố toàn bộ văn kiện của hội nghị về STCW sửa đổi Manila 2010, theo đó, Công ước sẽ đi vào hiệu lực từ 1.1.2012.

Theo quy định của Công ước, ngày 1.1.2013, một năm sau khi Công ước có hiệu lực, các quốc gia thành viên phải đệ trình báo cáo trao đổi ban đầu cho Tổng thư ký IMO các bước đã áp dụng để Công ước có hiệu lực đầy đủ và hoàn chỉnh. IMO sẽ xem xét công nhận hay không các quốc gia thành viên được xếp vào “Danh sách trắng” là quốc gia triển khai hiệu quả và hoàn chỉnh STCW 78 sửa đổi Manila 2010. Bộ Giao thông vận tải, Cục Hàng hải và các cơ sở đào tạo nước ta đang khẩn trương triển khai Công ước.

Ngày 13.4.;2011 Bộ trưởng ký quyết định Thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ Công tác để triển khai Công ước STCW78 sửa đổi.

Ngày 12.9.2011, kết luận của Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường tại cuộc họp thẩm định dự thảo Kế hoạch triển khai Công ước STCW78 sửa đổi 2010 nêu rõ, Cục Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm lập Đề án triển khai Công ước STCW78 sửa đổi 2010, báo cáo Bộ GTVT. Căn cứ các tiêu chuẩn về cơ sở đào tạo quy định tại Công ước và các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam được ban hành, các cơ sở đào tạo xây dựng Đề án nhằm đáp ứng yêu cầu của Công ước. Chậm nhất đến tháng 6/2012 phải hoàn thành và trình Bộ GTVT.

Ngày 13.9.2011 Bộ ra Quyết định phê duyệt ”Kế hoạch triển khai Công ước STCW78 sửa đổi 2010”

Ngày 15/12/2011 Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường họp Ban Chỉ đạo để triển khai Công ước sửa đổi 2010.

Ngày 20.1.2012 Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng ra Chỉ thị về việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục, đào tạo, thuyền viên và đáp ứng yêu cầu của Công ước sửa đổi 2010.

Các cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo hiện đang khẩn trương hoàn thiện bản dịch STCW, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật của Việt nam liên quan, rà soát, bổ sung chương trình đào tạo…Một trong những văn bản quan trọng “Thông tư về tiêu chuẩn chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn của thuyền viên và định biên an toàn tối thiểu của tàu biển Việt Nam” do Cục hàng hải dự thảo đang trình trình Bộ lần thứ hai. Các văn bản này sẽ được ban hành trước ngày 01/4/2012 và trình Bộ Giao thông vận tải trước ngày 01/5/2012.

Cục Hàng hải đang tích cực nghiên cứu, đổi mới công tác quản lý thuyền viên; bồi dưỡng, thi và cấp Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn cho thuyền viên đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng, đảm bảo khách quan trong thi cử, kiểm tra và tạo thuận lợi cho thuyền viên, doanh nghiệp trong việc cấp, đổi, gia hạn Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn.

Các cơ sở đào tạo đang triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng (ISO) và phải hoàn thành trước ngày 01/07/2012 đồng thời chuẩn bị đội ngũ giáo viên, giáo trình, tài liệu giảng dạy, cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu của Công ước STCW 78 sửa đổi 2010.

Tổng cục dạy nghề thuộc Bộ lao động thương binh và xã hội cũng đã tổ chức hội thảo vào nữa đầu tháng 3 nhằm tìm giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở dạy nghề hàng hải do Bộ này quản lý.

Cục hàng hải đang khẩn trương tập hợp tư liệu, hoàn thiện dự thảo báo cáo của Việt nam đệ trình Tổng thư ký IMO để gửi Bộ Giao thông vận tải trước ngày 01/8/2012.

Trên đây là hàng loạt các động thái triển khai thực hiện Công ước sửa đổi Manila của các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ sở đào tạo.

4.PV: Tôi nhận thấy ông rất chú trọng đến các mốc thời gian triển khai thực hiện STCW sửa đổi 2010. Vậy theo Ông các mốc thời gian đó có ý nghĩa gì, Ông bình luận thế nào về công việc triển khai ?

Công việc triển khai ở ta thực sự bắt đầu vào tháng 4/2011 trong khi văn bản của IMO đã được công bố trước đó 8 tháng (8/2010). Các công việc quan trọng bị dồn nén vào những tháng cuối 2011 và đầu 2012 để kịp dự thảo báo cáo gửi Tổng thư ký IMO, qua Bộ Giao thông vào tháng 8 năm nay. Như vậy có thể nói việc triển khai là tích cực nhưng quá muộn, để mất hết 8 tháng ban đầu, và đang chạy nước rút. Đồng nghĩa với việc cần xem xét, đánh giá kỹ chất lượng công việc đã được thực hiện.

Chẳng hạn việc triển khai quản lý chất lượng ISO tại các cơ sở đào tạo rất khó hoàn thành vào tháng 7.2012 (với biên bản kiểm định của cơ quan chủ quản) theo như yêu cầu của Bộ. Hiện nay chỉ mới có Trường Đại học hàng hải Hải phòng đã triển khai ISO, nhưng chưa có một biên bản kiểm định nào của cơ quan chủ quản về hiệu quả của hệ thống này.

Cách làm của ta hiện nay không khác mấy so với cách đây 20 năm khi gia nhập công ước STCW 78 vào năm 1991, chưa thấy có gì đổi mới về cách suy nghĩ cách làm; mặc dù về trình độ, tư duy, nhận thức, phương tiện,… đã thay đổi rất nhiều qua hơn hai thập niên. Nghị quyết trung ương cũng đưa ra yêu cầu phải đổi mới giáo dục đào tạo. Rõ ràng là phải có một cách làm mang tính “đổi mới” để thực sự nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực này, vì nó là nền tảng phát triển vận tải biển nước ta.

Chưa thấy có bất cứ một đánh giá nào chính thức có tính thuyết phục về hiệu qủa cũng như chất lượng của công tác đào tạo thuyền viên từ sau 1975 đến nay ra sao đặc biệt từ sau khi ta tham gia Công ước STCW, để rút ra các bài học, trong khi đó các nước láng giềng bỏ ta rất xa trong lĩnh vực này.

Trong các văn bản dự thảo thay thế văn bản cũ vẫn không có gì thể hiện rõ ràng về các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt chưa phân định rõ trách nhiệm đảm bảo chất lượng đào tạo của cơ sở đào tạo và vai trò kiểm soát, kiểm định chất lượng độc lập của chính quyền hành chính, cơ quan chủ quản. Chưa có các giải pháp quyết liệt nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở đào tạo, đặc biệt là chất lượng thầy giáo, phương tiện thực hành, thực tập… Chưa có phương án đổi mới phương thức thi cử, kiểm soát đầu ra.

Chức năng quản lý an toàn hàng hải, quản lý thuyền viên và kiểm soát chất lượng đào tạo là một trong những chức năng trọng tâm, hàng đầu của cơ quan chủ quản, đòi hỏi các bộ phận chuyên trách của cơ quan này phải đủ mạnh cả về số lượng và năng lực chuyên môn mới có thể đáp ứng hiệu quả việc triển khai STCW sửa đổi. Cần nâng cao vai trò, vị thế, năng lực và quyền lực của cơ quan chủ quản trong quản lý chất lượng đào tạo.

5. Ở phần trên Ông có đề cập tới “Danh sách trắng” của IMO, Ông có thể nói rõ hơn ?

Từ 1991 sau khi triển khai STCW78/95, Việt nam đã được xem xét và chấp nhận lọt vào danh sách trắng của IMO, nghĩa là Việt nam đã được thừa nhận như một quốc gia có hệ thống giáo dục đào tạo ngang tầm quốc tế từ đó. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện STCW lần này của các quốc gia Công ước sẽ được IMO kiểm soát, đánh gía chặt chẽ hơn rất nhiều để xem xét các Bên tham gia Công ước có còn đủ tư cách nằm trong Danh sánh trắng nữa hay không.

Như trên đã nói sau ngày 1.1.2013, khi nhận được báo cáo từ các quốc gia thành viên, Tổng thư ký IMO sẽ chuyển báo cáo đó cho Ủy ban An toàn Hàng hải (MSC) để đánh giá. Việc xem xét, đánh giá được thực hiện bằng một quy trình chi tiết và chặt chẽ, kể cả kiểm tra chéo của các Bên tham gia Công ước có liên quan. Sáu tháng sau đó, các bên tham gia Công ước phải tiếp tục thực hiện báo cáo khác về đánh giá độc lập chất lượng thực hiện Công ước. Đó là một qui trình xem xét hết sức khắc khe, khó có một quốc gia nào triển khai không đầy đủ và hiệu quả STCW mà lọt vào danh sách trắng. Đó là biện pháp mới mẻ để quản lý chất lượng triển khai STCW của các bên tham gia công ước. “Danh sách trắng” mới có những tiêu chí hoàn toàn khác trước.

Thực sự, một thách thức rất lớn giành cho các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành của ta. Dù sao cũng không thể để vuột mất cơ hội nằm trong “Danh sách trắng” của IMO, phải phấn đấu để khẳng định vị thế trong hàng ngũ các quốc gia có hệ thống giáo dục đào tạo theo chuẩn mực quốc tế.

6. PV: Với việc sửa đổi Công ước STCW 78, đòi hỏi thuyền viên VN nói riêng và thuyền viên thế giới nói chung phải đáp ứng những tiêu chuẩn gì về trình độ chuyên môn, huấn luyện, sức khỏe…?

Công ước sửa đổi đòi hỏi thuyền viên nước ta phải đáp ứng những tiêu chuẩn rất cao về chuyên môn, ngoại ngữ và sức khỏe theo yêu cầu của Công ước. Ngoài sự nổ lực của bản thân mỗi thuyền viên trong học tập và

rèn luyện, các cơ quan quản lý, các cơ sở đào tạo phải xây dựng và triển khai nhanh chóng các cơ chế, chính sách, đổi mới các giải pháp, động viên các nguồn lực xã hội để tăng số lượng và nâng cao chất lượng thuyền viên.

Điều mong mỏi thiết tha của những ai tâm huyết với ngành hàng hải nước nhà là trình độ và năng lực thuyền viên trên đội tàu quốc gia phải được nâng cao, giảm thiểu các tai nạn, sự cố hàng hải, số lượng thuyền viên xuất khẩu phải tăng mạnh, đó là thước đo kết quả triển khai Công ước STCW sửa đổi 2010.

PV: Xin chân thành cám ơn Ông.

PV: HỒNG MINH