NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN THUYỀN VIÊN

VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Nguyễn Văn Thư, Câu lạc bộ thuyền trưởng Việt Nam

ngvthu.ut@gmail.com

 

I.                   Khái quát chung

Đại dịch Covid 19 đã ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động vận tải biển và đặc biệt là đội ngũ thuyền viên làm việc trên tàu biển, trong đó có thuyền viên Việt Nam, biểu hiện ở những mặt sau:

1.      Trong hoạt động nghề nghiệp

-          Thuyền viên đứng trước nguy cơ rất cao bị nhiễm Covid do phải di chuyển thường xuyên giữa các cảng và tiếp xúc với nhiều người khi bốc xếp hàng hóa, làm thủ tục xuất nhập cảnh, tiếp nhận vật tư, nhiên liệu v.v. trong thời gian lưu lại trong cảng. Thực tế đã có trường hợp hầu hết thuyền bộ của một tàu biển Việt Nam bị nhiễm bệnh.

-          Thuyền viên bị tổn hại cả về thể chất và tinh thần do cường độ công việc tăng lên vì ngoài công việc chuyên môn nay còn phải làm thêm thêm công việc vệ sinh, phòng dịch trên tàu hoặc do tàu không được định biên đủ thuyền bộ theo quy định. Nhiều thuyền viên phải làm việc quá thời hạn hợp đồng do việc thay thế thuyền viên đã không thực hiện được vì các biện pháp hạn chế di chuyển, dừng xuất nhập cảnh của các quốc gia.

-          Các tổn hại còn bị tăng lên do thuyền viên bị cách biệt với xã hội không chỉ trong thời gian tàu ở trên biển mà cả khi tàu ở trong cảng do không được đi bờ và giao tiếp thông thường. Nhiều thuyền viên đã bị kẹt lại trên bờ hàng tháng trời và không thể hồi hương sau khi rời tàu do không thể thu xếp được chuyến bay về nước. Việc cung ứng lương thực, thực phẩm, vật tư cho thuyền viên cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đã có những thuyền bộ Việt Nam bị chủ tàu bỏ lại cùng với tàu ở cảng nước ngoài. Thuyền viên rất khó tiếp cận với dịch vụ y tế trên bờ trong trường hợp bị bệnh tật hay bị thương trong khi ở tên tàu không có người có đủ chuyên môn để giúp chăm sóc y tế dẫn đến quyền được chăm sóc y tết của thuyền viên không được đảm bảo. Ngược lại, nhiều thuyền viên đang ở trên bờ lại không được xuống tàu làm việc nên bị ảnh hưởng lớn về thu nhập và tinh thần. Gia đình và người thân của thuyền viên cũng bị ảnh hưởng do lo lắng cho người thân hoặc thuyền viên không thể về nhà khi có người thân ốm đau, bị chết hoặc những tình huống khẩn cấp khác.

-          Chi phí di chuyển tăng rất cao, thời gian cách ly thay đổi và đôi khi chồng chéo nhau, cùng với chi phí cách ly cao trong một số trường hợp đã gây khó khăn cho cả chủ tàu và thuyền viên.

Những tổn hại này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn của cá nhân thuyền viên cũng như an toàn cho tàu và cho an toàn hàng hải nói chung.

2.      Trong việc huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ

-          Nhiều khóa huấn luyện, cập nhật cho thuyền viên bị hoãn, hủy hoặc không tổ chức được do quy định về dãn cách xã hội trong khi việc huấn luyện và cấp giấy chứng nhận trực tuyến chưa thực hiện được do thiếu hành lang pháp lý cả ở bình diện quốc gia và quốc tế.

-          Việc cấp lại, gia hạn GCN gặp khó khăn do một số cơ quan thẩm quyền chưa linh hoạt trong việc gia hạn, cấp lại GCN. Thuyền viên có thể không tích lũy đủ thời gian đi biển để duy trì giấy chứng nhận, thăng cấp trong nghề nghiệp.

3.      Việc hỗ trợ của nhà nước, xã hội

-          Các chính sách hỗ trợ người lao động của chính phủ đã không tới được với những thuyền viên đang bị thất nghiệp vì đại dịch.

-          Việt Nam chưa công nhận thuyền viên là “lao động chủ chốt” theo khuyến nghị ca tổ chức IMO và ILO nên không được hưởng bất cứ ưu tiên nào trong việc hỗ trợ nghề nghiệp, di chuyển nội địa và quốc tế, tiêm vắc xin phòng Covid 19. Tuy chính phủ có quy định về đối tượng được ưu tiên tiêm vắc xin nhưng không thật rõ ràng đối với thuyền viên.

-          Ngoài việc hỗ trợ theo chính sách bảo hộ công dân nói chung, chưa có sự hợp tác song phương hoặc đa phương nào trong việc hỗ trợ gthay đổi/di chuyển thuyền viên.

-          Một số quy định hạn chế về di chuyển, xuất nhập cảnh được đưa ra đột ngột với thời hạn áp dụng quá ngắn ảnh hưởng đến kế hoạch khai thác tàu và việc thay thế/di chuyển của thuyền viên.

-          Việt Nam chưa có quy định riêng cho việc hỗ trợ các tàu chỉ ghé các cảng để thay thế thuyền viên. Do sự phức tạp và tốn kém về chi phí và thời gian cho việc thay thế thuyền viên nên một số người thuê tàu đưa ra các điều khoản về không được thay thế thuyền viên trong thời gian thuê tàu đã gây áp lực lên các chủ tàu/người khai thác tàu và thuyền viên.

II.                Những đề xuất, kiến nghị

1. Đối với chính phủ:

Do Việt Nam đã là thành viên của Công ước về Lao động Hàng hải (MLC 2006) nên xin được trích dẫn các kiến nghị/đề xuất trong tài liệu “Quan sát chung về các vấn đề phát sinh từ việc áp dụng Công ước Lao động Hàng hải 2006, đã được sửa đổi (MLC, 2006) trong đại dịch COVID-19” của Ủy ban các chuyên gia về áp dụng các công ước và khuyến nghị (CEACR) thông qua tại phiên họp thứ 91 (tháng 11 đến tháng 12 năm 2020) của Tổ chức Lao động Quốc tế:

i.     Trong vai trò quốc gia đăng ký tàu, cần quy định rõ:

·               bất kỳ việc gia hạn hợp đồng lao động nào giữa chủ tàu và thuyền viên cũng phải được thực hiện với sự đồng ý một cách rõ ràng, tự do của thuyền viên (theo Quy định 2.1, đoạn 2 của MLC 2006) để tránh tình trạng thuyền viên bị làm việc cưỡng bức;

·               Chủ tàu, đơn vị cung ứng thuyền viên không được thu lệ phí hoặc các khoản phí khác cho việc tuyển dụng hoặc bố trí thuyền viên, bao gồm cả chi phí cho bất kỳ nghĩa vụ kiểm dịch nào trước khi nhập tàu, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, toàn bộ hoặc một phần, từ thuyền viên ngoài những chi phí được phép theo Tiêu chuẩn A1 .4, đoạn 5 của MLC 2006;

·               Cấm hủy bỏ quyền nghỉ phép tối thiểu hàng năm có lương của thuyền viên, trừ những trường hợp ngoại lệ hạn chế được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Quy định 2.4 và Tiêu chuẩn A2.4, đoạn 3 MC 2006);

·               thuyền viên phải được phép đi bờ vì sức khỏe và tinh thần phù hợp với yêu cầu hoạt động của vị trí công việc của họ, với điều kiện tôn trọng nghiêm ngặt bất kỳ biện pháp y tế công cộng nào áp dụng cho người dân địa phương (Quy định 2.4, khoản 2 MLC 2006);

·               Thuyền viên được hồi hương miễn phí trong những trường hợp được quy định trong Công ước MLC 2006, tuân thủ nghiêm ngặt thời hạn làm việc tối đa 11 tháng mặc định trên tàu dựa trên các quy định của Công ước (Quy định 2.5 và Quy định 2.4 MLC 2006);

·               các tàu Việt Nam phải có đủ số lượng theo định biên tối thiểu để đảm bảo cho tàu được vận hành an toàn, hiệu quả và quan tâm đến an ninh trong mọi điều kiện, có tính đến những lo ngại về sự mệt mỏi của thuyền viên cũng như tính chất và điều kiện cụ thể của chuyến đi (Quy định 2.7 MLC 2006);

·               thuyền viên trên các tàu Việt Nam phải được bảo vệ bằng các biện pháp thích hợp để bảo vệ sức khỏe và được chăm sóc y tế kịp thời và đầy đủ trong thời gian làm việc trên tàu, bao gồm cả việc được tiêm chủng (Quy định 4.1 MLC 2006);

·               thuyền viên trên tàu Việt Nam phải được bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp và được sống, làm việc và huấn luyện trên tàu trong một môi trường an toàn và vệ sinh (Quy định 4.3 MLC 2006);

·               thuyền viên trên tàu Việt Nam phải được tiếp cận với các cơ sở phúc lợi trên bờ nếu có sẵn, với điều kiện tuân thủ nghiêm ngặt của bất kỳ biện pháp y tế công cộng nào áp dụng cho người dân địa phương (Quy định 4.4); và

·               các biện pháp được thực hiện để hỗ trợ phúc lợi của thuyền viên trên tàu, đặc biệt là trong thời gian làm việc thêm trên tàu, bao gồm cả việc thu xếp để liên lạc được với gia đình và những người thân.

ii.                  Trong vai trò của Quốc gia có cảng:

·            cho phép thuyền viên được hưởng quyền đi bờ theo Quy định 2.4, khoản 2 MLC 2006, nhưng phải tuân theo sự tôn trọng nghiêm ngặt của bất kỳ biện pháp y tế công cộng nào áp dụng cho người dân địa phương;

·            tạo điều kiện thuận lợi cho việc hồi hương của các thuyền viên làm việc trên các tàu ghé cảng Việt Nam hoặc đi qua lãnh hải hoặc nội thủy của Việt Nam (Tiêu chuẩn A2.5.1, đoạn 7, MLC 2006); Do Việt Nam không có quy định về “lao động chủ chốt” nân đề nghị đưa thuyền viên vào danh mục các chuyên gia được ưu tiên theo quy định của chính phủ.

·            cho phép và tạo điều kiện thay thế cho những thuyền viên đã rời tàu và qua đó đảm bảo an toàn định biên của tàu, bằng cách đối xử nhanh chóng và không phân biệt đối với các thuyền viên mới vào lãnh thổ Việt Nam chỉ để xuống tàu của họ (Tiêu chuẩn A2.5.1, đoạn 7 MLC 2006);

·             đảm bảo rằng các thuyền viên ở trên tàu đang ở trong lãnh thổ Việt Nam cần được chăm sóc y tế được tiếp cận ngay lập tức với các cơ sở y tế trên bờ (Quy định 4.1);

·            hạn chế việc đưa ra và / hoặc liên tục thay đổi các biện pháp hạn chế của quốc gia và / hoặc những quy định của cảng có thể cản trở việc lập kế hoạch trước cho chuyến đi một cách hợp lý của tàu và tránh việc thực thi và bắt buộc thực hiện Công ước một cách không nhất quán so với các nước thành viên khác.

iii.                Với vai trò của quốc gia cung ứng thuyền viên: hợp tác với các Quốc gia cho tàu mang cờ và quốc gia có cảng để đảm bảo tôn trọng các quyền của thuyền viên Việt Nam.

2.      Đối với các chủ tàu, người khai thác tàu, người thuê tàu, đơn vị cung ứng thuyền viên và các dịch vụ hàng hải

Liên quan đến tới các đối tượng này, đề xuất các đơn vị trên nghiên cứu và áp dụng đầy đủ các hướng dẫn trong tài liệu “Human Rights Due Diligence Tool - HRDD”  do Hiệp ước Toàn cầu của LHQ (UNGC), Văn phòng Nhân quyền LHQ, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đồng xây dựng cho tất cả các doanh nghiệp tham gia vào ngành hàng hải (có thể tải xuống tại https://www.standard-club.com/fileadmin/uploads/standardclub/ Documents/ Import/news/2021-news/Human_Rights_Due_Diligence_Tool.pdf).

Nghiên cứu và áp dụng Hướng dẫn của IMO trong Nghị quyết MSC.1/Circ.1636 về Khung giao thức được đề xuất để đảm bảo an toàn cho việc thay đổi và di chuyển của thuyền viên trong đại dịch coronavirus (COVID-19) và đưa vào hệ thống quản lý an toàn. Có thể tải xuống tại:

https://wwwcdn.imo.org/localresources/en/MediaCentre/HotTopics/Documents/MSC%201636%20protocols/MSC.1-Circ.1636%20-%20Industry%20Recommended%20Framework%20Of%20Protocols%20For%20Ensuring%20Safe%20Ship%20Crew%20Changes%20And%20Travel.pdf

                Tham khảo tài liệu hướng dẫn của ICS về các vấn đề pháp lý, trách nhiệm và bảo hiểm nảy sinh từ việc tiêm chủng ngừa Covid 19 cho thuyền viên tại:

 https://www.ics-shipping.org/publication/coronavirus-covid-19-legal-liability-and-insurance-issues-arising-from-vaccination-of-seafarers/

Các chủ tàu cần chủ động liên hệ với đại lý tại các quốc gia dễ tiếp cận với dịch vụ tiêm vắc xin để tiêm vắc xin ngừa Covid 19 cho thuyền viên khi tàu ghé cảng có điều kiện.

-------------------------------------