Th. trưởng Tiếu Văn Kinh

Chủ tịch CLB Thuyền trưởng VN

Công ước STCW 1978 sửa đổi năm 2010 tại hội nghị ngoại giao Manila dự định có hiệu lực vào 1.1. 2012, gọi là STCW78/10. Hội nghị ngoại giao Manila công bố nhiều văn kiện, ở đây tập trung tìm hiểu các sửa đổi của Công ước STCW.

Công ước STCW cấu thành bởi 3 phần gắn liền với nhau:

1) Công ước

Phần này có 17 Điều (Articles), từ Article I (Nghĩa vụ chung đối với Công ước "General obligations under this Convention") đến Điều XVII (Lưu trữ và Ngôn ngữ). Phần Công ước giữ nguyên, không sửa.

2) Phụ lục (Annex), có 8 Chương (Chapter);

3) Bộ luật STCW, gồm Phần A (bắt buộc) và Phần B (Kiến nghị hướng dẫn).

A.   Bối cảnh ra đời và tiến trình sửa đổi dẫn đến STCW 78/10 Manila

Tháng 7 năm 1978 Tổ chức hàng hải thế giới, lần đầu tiên trong lịch sử thông qua     “Công ước Tiêu chuẩn huấn luyện, cấp bằng và trực ca”. Chính phủ nước ta đã phê chuẩn Công ước này của IMO ngày 18 tháng 3 năm 1991 và trở thành quốc gia thành viên của Công ước (sau đây gọi là quốc gia công ước). Công ước có hiệu lực vào tháng 4 năm 1984.

Từ sau khi Công ước được thông qua và có hiệu lực, chất lượng thuyền viên các quốc gia công ước trong đó có nước ta được nâng cao, tăng cường khả năng bảo vệ con người, tài sản trên biển và bảo vệ môi trường biển trên phạm vi toàn cầu, kiểm soát một cách có hiệu quả ảnh hưởng của các sự cố trên biển, mang lại nhiều ý nghĩa tích cực cho các hoạt động của con người trên đại dương.

Cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ và yêu cầu phát triển của ngành công nghiệp vận tải biển, Công ước đã trải qua nhiều lần sửa đổi. Sửa đổi Phụ lục STCW vào năm 1995 là lần sửa đổi lớn và toàn diện, đồng thời bổ sung văn bản mới là Bộ luật STCW95 (STCW95 Code).

Những năm đầu của thập niên thứ nhất thế kỷ 21, ngành hàng hải trên toàn thế giới phải đương đầu với nhiều thách thức mới:

-          Cùng với tiến trình toàn cầu hóa, tàu biển hiện nay đang phát triển theo xu hướng trọng tải ngày càng lớn, tốc độ ngày càng cao, chuyên dụng hóa, hiện đại hóa, công nghệ thông tin được áp dùng ngày càng rộng rãi.

-          Cần có những biện pháp cải tiến nhằm ngăn chặn sự gian lận, phi pháp trong việc cấp chứng chỉ chuyên môn giả mạo cho thuyền viên và tăng cường quá trình đánh giá (giám sát sự tuân thủ Công ước của các bên đối với Công ước);

-          Tăng cường kiến thức bảo vệ thuyền viên trong điều kiện trên biển;

-          Vận dụng kỹ thuật mới trên tàu như ECDIS ...;

-          Nâng cao kỹ năng quản lý và lãnh đạo cho thuyền viên cao cấp;

-          Nâng cao kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý của thuyền viên về nguồn lực trên tàu;

-          Coi trọng các nhân tố về con người [hiểu biết lẫn nhau (giữa nội bộ và với bên ngoài), chống mệt mỏi ...]

-          Nâng cao năng lực chuyên môn đặc thù của thuyền viên ngành công nghiệp dầu khí ngoài khơi;

-          Nạn cướp biển vũ trang đang hoành hành với mức độ đáng lo ngại, đòi hỏi thuyền viên phải được huấn luyện đầy đủ kiến thức để đối phó hiệu quả.

-          Vấn đề hành hải trên vùng cực.

-          Tai nạn sự cố / yếu tố con người

-          Thuyền viên thiếu khả năng chuyên môn

-          Những thay đổi trong việc cung ứng thuyền viên

-          Thay đổi các hệ thống đào tạo và huấn luyện hàng hải

-          Chính quyền hành chính thiếu hậu thuẩn cho việc thực thi STCW

-          Không cập nhật kịp thời

Trong bối cảnh đó đòi hỏi tiêu chuẩn đào tạo và huấn luyện thuyền viên và trực ca   phải được xem xét toàn diện, bổ sung và nâng cao.

Từ sau lần sửa đổi 1995, IMO cũng đã nhiều lần sửa đổi Công ước và Bộ luật STCW. Mười năm sau 1995, IMO nhận thấy cần thiết phải xem xét đánh giá toàn diện Công ước và Bộ luật STCW, từ đó tiến hành sửa đổi một cách có hệ thống Công ước STCW và Bộ luật STCW.

Năm 2006, theo đề nghị của hội nghị Phân ủy ban STW lần thứ 37, Ủy ban An toàn Hàng hải (MSC) trong cuộc họp lần thứ 81 đã chỉ thị cho Phân ủy ban STW ưu tiên đưa vấn đề “xem xét toàn diện Công ước STCW và Bộ luật STCW” vào kế hoạch làm việc của Phân ủy ban. Năm 2007, trong cuộc họp lần 38 của Phân ủy ban STW đã xác định 9 nguyên tắc (trích nội dung bài phát biểu khai mạc hội nghị Manila của Ông E. E. MITROPOULOS Tổng thư ký IMO) đánh giá toàn diện Công ước và Bộ luật STCW như sau:

(1) Giữ nguyên kết cấu và mục tiêu của sửa đổi 1995;

(2) Không giảm thấp tiêu chuẩn hiện có;

(3) Không sửa đổi các điều khoản của Công ước;

(4) Tập trung vào các vấn đề không thống nhất, giải thích và loại bỏ những yêu cầu đã lỗi thời, đồng thời làm rõ một số quy định mà Ủy ban an toàn hàng hải đã thống nhất đề xuất.

(5) Nhắm vào các vấn đề tiến bộ khoa học công nghê;

(6) Tập trung vào yêu cầu trao đổi thông tin hiệu quả;

(7) Trên cơ sở chú ý đến cải tiến về công nghệ, có tính linh hoạt khi tuân thủ và các mức độ yêu cầu về bố trí huấn luyện, cấp bằng, trực ca;

(8) Xem xét các quy định đối với đặc điểm và điều kiện của tàu biển chạy tuyến ngắn   và ngành công nghiệp dầu khí xa bờ;

(9) Xem xét vấn đề bảo vệ an ninh liên quan.

Trong khoảng thời gian dài IMO đã theo đuổi mục tiêu “ hàng hải càng an toàn, biển cả càng trong sạch” ( Safer Shipping, leaner Oceans). Nhưng mục tiêu hiện nay đã sửa thành “hàng hải an toàn, an ninh và hiệu quả cao trên biển sạch” ( Safe, Secure and Efficient Shipping on Clean Oceans). Có thể nhận thấy IMO đã nhận thức hai chủ đề truyền thống cần đặt song song, đó là “ an toàn, an ninh” và “phòng ngừa ô nhiễm”, đưa trách nhiệm bảo vệ an ninh vào nội dung đào tạo thuyền viên. Đồng thời, “hàng hải hiệu quả cao” trở thành nội dung mới của mục tiêu mà IMO theo đuổi. IMO đã nhận thức phát triển của khoa học công nghệ là sự đảm bảo kỹ thuật quan trọng để thực hiện “hàng hải hiệu quả cao”.

3 nguyên tắc đầu trong 9 nguyên tắc đánh giá toàn diện Công ước STCW là cơ sở để sửa đổi Công ước Manila. Sửa đổi Manila đã giữ nguyên kết cấu và mục tiêu của sửa đổi 1995, không hạ thấp tiêu chuẩn hiện có, không sửa đổi nội dung các điều khoản Công ước, chỉ sửa đổi toàn diện Bộ luật STCW (Regulations) và Phụ lục Công ước. Phân ủy ban STW khi tiến hành đánh giá toàn diện STCW, yêu cầu mỗi văn kiện hoặc các đề xuất đưa ra phải thuyết minh rõ ràng nội dung sửa đổi dựa trên nguyên tắc thứ mấy trong các nguyên tắc mà STW nêu ra. Do nạn hải tặc vũ trang, an ninh hàng hải đang chịu thách thức nghiêm trọng, căn cứ vào nguyên tắc thứ 9, nội dung sửa đổi đã tăng thêm yêu cầu mới về trách nhiệm an ninh. Vì sự phát triển của công nghiệp dầu khí, căn cứ vào nguyên tắc thứ 8, bản sửa đổi tăng thêm yêu cầu huấn luyện mới. Nguyên tắc thứ 6, xác đinh rõ về nội dung báo cáo đánh giá độc lập đồng thời đưa ra yêu cầu kiểm soát điện tử. Từ Nguyên tắc thứ 7 đưa ra yêu cầu đào tạo từ xa và đào tạo điện tử. Phải giải quyết nhiều vấn đề từ nguyên tắc thứ 4, khi tiến hành đánh giá toàn diện STCW95 nguyên tắc này được vận dụng nhiều nhất, loại bỏ những gì đã lỗi thời, làm rõ những vấn đề mới, chủ yếu thể hiện các yêu cầu về phát triển khoa học công nghệ bao gồm công nghệ thông tin.

Điểm qua quá trình và chuẩn bị, sửa đổi Công ước và Bộ luật STCW 78/10:

-          Tháng 1/2006 Hội nghị STW37, thúc đẩy công việc xem xét toàn diện Công ước và Bộ luật STCW ;

-          Tháng 1/2010 triệu tập hội nghị STW41 hoàn thành bản dự thảo sửa đổi;

-          Giữa năm 2010 triệu tập hội nghị ngoại giao Manila thông qua bản sửa đổi;

-          Công ước và Bộ luật STCW 1978 qua sửa đổi 2010 dự định có hiệu lực vào 1.1. 2012, gọi là STCW78/10.

B. Các sửa đổi Manila

Nội dung trình bày sau đây chủ yếu nêu ra những sửa đổi, bổ sung của STCW78/10 Manila so với STCW78/95, không đề cập đến những nội dung về cơ bản giữ nguyên, được trình bày theo thứ tự các Chương và các Quy định của Phụ lục (Annex) kèm theo các phần liên quan của Bộ luật STCW trong đó mục A (bắt buộc), mục B kiến nghị hướng dẫn).

Chương I

Các Quy định chung

Các sửa đổi ở Chương 1 chủ yếu thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

1. Tăng thêm 10 khái niệm mới, quy định tên của Giấy chứng nhận, xác định cấp độ chứng chỉ;

2. Nâng cao yêu cầu thẩm định việc cấp, chứng thực, thừa nhận giấy chứng nhận;

3. Nhấn mạnh trách nhiệm của quốc gia công ước đấu tranh với nạn giấy chứng nhận giả mạo;

4. Tăng cường việc kiểm định danh sách trắng và nâng cao tính minh bạch của việc trao đổi văn bản;

5. Nâng cao yêu cầu hệ thống chất lượng;

6. Nâng cao việc xác định các yếu tố cần xem xét đối với khu vực hàng hải gần bờ;

7. Xác định yêu cầu tiêu chuẩn sức khỏe của thuyền viên và cấp giấy chứng nhận sức khỏe;

8. Tăng cường trách nhiệm của công ty;

9. Xác định rõ thời kỳ chuyển tiếp.

Cụ thể các vấn đề nói trên được sửa đổi như sau:

Quy định I/1 - Định nghĩa và Giải thích

  • Quy định này bổ sung một số chức danh, khái niệm mới gồm:

-          Sĩ quan điện tử-Kỹ thuật(Electronic-Technical Officer);

-          Giấy chứng nhận năng lực (Certificate Of Competency);

-          Giấy chứng nhận trình độ (Certificate of Proficiency);

-          Văn bản chứng minh (Documentary evidence);

-          Sĩ quan an ninh tàu biển (Ship security officer);

-          Thủy thủ trực ca cấp cao (Able Seafarer Deck);

-          Thợ máy trực ca cấp cao (Able Seafarer Engine);

-          Thợ điện tử-kỹ thuật (Electro-technical Rating)。

-          ...

 

  • Xác định các chứng chỉ trong văn kiện STCW78/10 sửa đổi được chia làm 3 cấp:

-          Giấy chứng nhận năng lực chuyên môn (COC) - theo yêu cầu của Chương II、III、 IV và VII cấp cho Thuyền trưởng, sĩ quan và nhân viên vô tuyến điện GMDSS.

-          Giấy chứng nhận trình độ chuyên môn (COP) - cấp cho thuyền viên ngoài Giấy chứng nhận năng lực chuyên môn.

-          Văn bản bằng chứng (Documentary evidence)

Quy định I/2 - Giấy chứng nhận và chứng thực

  • Trong lần sửa đổi này xác định rõ ràng cơ quan cấp giấy chứng nhận và trách nhiệm của việc cấp giấy chứng nhận:

-          Quy định I/2-1: Giấy chứng nhận năng lực (COC) chỉ được cấp bởi chính quyền hành chính sau khi xác minh (verification) tính xác thực và tính hợp lệ của bất kỳ văn bản bằng chứng cần thiết.

-          Quy định I/2-2: Giấy chứng nhận theo các điều khoản của Quy định V/1-1 và V/1-2 cho thuyền trưởng và sĩ quan chỉ được cấp bởi chính quyền hành chính.

-          Quy định I/2-7.1 và 7.2 quy định: Một chính quyền hành chính được công nhận theo quy định I/10 khi chứng thực bất kỳ Giấy chứng nhận năng lực hoặc Giấy chứng nhận trình độ cấp cho thuyền trưởng và sĩ quan theo Quy đinh V/1-1 và V/1-2 phải đảm bảo (ensuring) tính xác thực và hợp lệ của các giấy chứng nhận đó.

-          Quy định I/2-8.2: Tất cả các chứng thực của các giấy chứng nhận chỉ được cấp bởi chính quyền hành chính.

Quy định I/2-12~16:

-          Các bên tham gia công ước phải có nghĩa vụ thẩm tra tư cách của ứng viên trươc khi cấp giấy chứng nhận;

-          Ứng viên yêu cầu cấp giấy chứng nhận phải trình đủ các bằng chứng về nhận dạng, tuổi tác, giấy chứng nhận y tế theo A-I/9 của Bộ luật STCW, thời gian đi biển, các nội dung huấn luyện bắt buộc có liên quan đến giấy chứng nhận.

-          Khi một quốc gia tham gia công ước khác chấp nhận giấy chứng nhận hoặc công ty thuê mướn thuyền viên cần kiểm tra tình trạng của giấy chứng nhận, thì quốc gia tham gia công ước phải có nghĩa vụ cung cấp các tư liệu liên quan đến giấy chứng nhận.

-          Sau khi bản sửa đổi STCW có hiệu lực (có thể vài năm), tình trạng giấy chứng nhận có thể kiểm tra trên mạng, thời gian cụ thể do hội nghị ngoại giao các bên tham gia công ước quyết định.

Quy định I/3: làm rõ hơn các yêu cầu của hành trình gần bờ;

Quy định I/5: Các quy định của quốc gia

-          Quy định I/5-2 : mỗi quốc gia tham gia công ước phải chế định và thực hiện các biện pháp thích đáng ngăn chặn giả mạo và các hành vi phi pháp liên quan đến giấy chứng nhận và chứng thực.

Quy định I/6: Huấn luyện và đánh giá

  • B-I/6 bổ sung khoản 6-11: nói về quốc gia công ước tăng cường chỉ đạo đào tạo từ xa và đào tạo điện tử (distance learning and e-learning)
  • B-I/6 bổ sung khoản 6.12: các quốc gia công ước đảm bảo kết cấu, kế hoạch, và giáo trình của bất kỳ huấn luyện nào phải được lưu giữ, có thể cung cấp cho quốc gia công ước khác thẩm định.

Quy định I/7: Trao đổi thông tin

  • Quy định I/7 khoản 3.2, yêu cầu ủy ban an toàn hàng hải (MSC) tiến hành đánh giá quốc gia công ước trong danh sách trắng (White List), chỉ những quốc gia nào được xác nhận tuân thủ công ước đầy đủ, hiệu quả thì mới được duy trì trong danh sách trắng (mới).
  • A-I/7 sau khi sửa đổi, được chia làm 4 phần:

–        Phần thứ nhất – trao đổi thông tin ban đầu (báo cáo tuân thủ công ước): Trong vòng một năm sau khi Quy định I/7 có hiệu lực mỗi quốc gia thành viên phải báo cáo các bước đã áp dụng để cho Công ước có hiệu lực đầy đủ và và hoàn chỉnh.

–        Phần thứ hai – báo cáo tiếp theo

ü  Quốc gia công ước báo cáo trong vòng 6 tháng (có quy định chi tiết nội dung báo cáo);

ü  Quốc gia công ước báo cáo kết quả đánh gíá được thực hiện đúng theo Quy định I/8-2 (có quy định chi tiết nội dung báo cáo)

ü  [Khi các quốc gia công ước khác yêu cầu thì IMO có thể cung cấp các báo cáo đánh giá độc lập của quốc gia công ước].

–        Phần thứ ba - Danh sách người có đủ tư cách: danh sách được xác nhận bởi Ủy ban An toàn Hàng hải giúp việc đánh giá.

–        Phần thứ bốn - Báo cáo của Ủy ban an toàn hàng hải (MSC) (không thay đổi)

Quy định I/8: Tiêu chuẩn chất lượng

  • Quy định I/8-1.1 (sửa đổi): tiêu chuẩn chất lượng phải bao gồm việc cấp giấy chứng nhận sức khỏe.
  • Quy định I/8-1.2 (sửa đổi): đánh giá định kỳ còn phải bao gồm việc sửa đổi các quy định và quy trình trong nước để chấp hành Công ước và Bộ luật sửa đổi.

Quy định I/9: Tiêu chuẩn sức khỏe

  • Sửa đổi Quy định I/9 và A-I/9, B-I/9 (Bộ luật) - Cập nhật theo yêu cầu của ILO MLC

–        Đề cập đến tiêu chuẩn sức khỏe của thuyền viên, các quy định liên quan đến nhân viên y tế phụ trách việc kiểm tra sức khỏe thuyền viên, các hướng dẫn thủ tục khám và cấp giấy chứng nhận sức khỏe, mẫu tiêu chuẩn giấy chứng nhận sức khỏe và thời hạn giấy chứng nhận (2 năm), các vấn đề về nội dung đăng ký nhân viên y tế...

–        Tiêu chuẩn thị lực sau khi sửa đổi, từ B chuyển sang A (A-I/9-1) (có bổ sung: boong 0.5, máy 0,4, nhân viên GMDSS 0.4)

–        Tiêu chuẩn thể lực sau khi sửa đổi, chuyển từ B sang A (A-I/9-2)

–        B-I/9: sửa đổi mang tính điều chỉnh

Quy định I/11 : Cấp mới giấy chứng nhận:

  • A-I/11 – Điều kiện cấp mới giấy chứng nhận.

Tăng thêm một lựa chọn:

ü  Trong 5 năm trước gần nhất có 12 tháng phục vụ trên biển (như cũ), hoặc

ü  Trong 6 tháng trước gần nhất có 3 tháng phục vụ trên biển (tăng thêm) ;

 

  1. ·          Quy định I/11.3 : thuyền trưởng, sĩ quan và nhân viên vô tuyến làm việc trên tàu hàng lỏng trong thời gian không quá 5 năm sau khi ở trên bờ muốn trở lại làm việc phải chứng minh duy trì năng lực chuyên môn đặc biệt theo phương thức yêu cầu trong phần A-I/11.3 như sau:
  • A-I/11.3: Phải thông qua các phương thức sau đây để chứng minh duy trì năng lực chuyên môn:

–        Xác nhận làm việc, hoàn thành các nhiệm vụ tương ứng với giấy chứng nhận hoặc chứng thực làm việc trên tàu hàng lỏng trong thời gian tổng cộng 3 tháng trong 5 năm trước gần nhất;

–        Hoàn thành tốt các khóa huấn luyện tương ứng được phê duyệt.

Quy định I/12 : Sử dụng thiết bị mô phỏng (không sửa đổi)

  • A-I/12 - Các tiêu chuẩn sử dụng thiết bị mô phỏng (không sửa đổi)
  • B-I/12 – Hướng dẫn sử dụng thiết bị mô phỏng

Bổ sung: hướng dẫn về “ huấn luyện và đánh giá thao tác sử dụng ECDIS: kế hoạch và mục tiêu của huấn luyện ECDIS, lý thuyết và hiển thị, huấn luyện trên thiết bị mô phỏng, hệ thống kiến thức cơ bản, phân biệt các thông tin sai, tính hạn chế, rủi ro khi quá tin vào ECDIS, liên kết sử dụng với radar, AIS, ARPA v..v.

Quy định I/14: Trách nhiệm Công ty

  1. ·          Quy định I/14-1.3, bổ sung mới:

–        Yêu cầu các công ty đảm bảo phải huấn luyện bồi dưỡng và cập nhật kiến thức khi đưa thuyền viên lên tàu làm việc;

–        Quy định I/14-1.7, bổ sung mới:

ü  Yêu cầu công ty đảm bảo chắc chắn bất cứ lúc nào thuyền viên trên tàu của họ cũng phải thỏa mãn yêu cầu thông tin bằng khẩu ngữ hiệu quả (effective oral communication) theo Chương V Quy định 14 Khoản 3 và 4 của SOLAS.

  • A-I/14-3, bổ sung mới :

–        Xem xét trên cơ sở hướng dẫn tại B-I/14, công ty phải đảm bảo thuyền trưởng, sĩ quan hoặc nhân viên khác được phân công nhiệm vụ và trách nhiệm đặc biệt trên tàu khách ro-ro của họ phải hoàn thành huấn luyện làm quen để đủ khả năng tương đương với năng lực quy định, nhiệm vụ và trách nhiệm sẽ phải đảm đương.

  • B-I/14: Hướng dẫn trách nhiệm của công ty và kiến nghị trách nhiệm đối với thuyền trưởng và thuyền viên.

-          Sửa đổi khoản 1, thêm vào nội dung, Công ty phải đảm bảo rằng:

ü .1 Tất cả thuyền viên công tác trên tàu trang bị xuồng cứu sinh tự phóng phải được huấn luyện làm quen quy trình lên xuồng, phóng và thu hồi loại xuồng đó;

ü .2 Trước khi lên tàu thuyền viên được chỉ định thao tác xuồng tự phóng phải trải qua huấn luyện tương ứng về lên xuồng, phóng và thu hồi xuồng, bao gồm ít nhất tham gia một lần thao tác phóng xuồng;

ü .3 Nhân viên được chỉ định thao tác thiết bị GMDSS phải được huấn luyện làm quen GMDSS ngay sau nhận nhiệm vụ trên tàu hoặc một khoảng thời gian thích hợp sau đó.

-          Sửa đổi khoản 2, yêu cầu:

Huấn luyện làm quen trên tàu khách ro-ro ít nhất phải đảm bảo thuyền viên đạt được khả năng tương ứng với năng lực quy định, nhiệm vụ và trách nhiệm được giao bao gồm việc hiểu rõ và và vận dụng như sau:

ü Thiết kế tàu và những hạn chề về thao tác;

ü Quy trình đóng, mở và bít kín cửa mở thân tàu;

ü Pháp lý, luật và hiệp định liên quan đến tàu khách ro-ro;

ü Các yêu cầu về ổn tính, ứng suất và hạn chế;

ü Quy trình bảo dưỡng các thiết bị đặc biệt trên tàu khách ro-ro;

ü Sử dụng sổ tay chất xếp chằng buộc và máy tính xếp hàng;

ü Những điều cần chú ý khu vực hàng nguy hiểm;

ü Quy trình khẩn cấp.

Quy định I/15 – Điều khoản chuyển tiếp

  • Trên cơ sở các điều khoản bản sửa đổi 1995, trong bản sửa đổi mới chỉ thay đổi năm, tháng.

–        Đối với thuyền viên bắt đầu làm việc trên biển, kế hoạch đào tạo và huấn luyện hoặc chương trình huấn luyện được phệ duyệt trước 1.7.2013, cho đến 2017, các bên tham gia công ước có thể căn cứ vào Công ước và Phụ lục có hiệu lực trước 1.1.2012 (tức sửa đổi 1995) để tiếp tục cấp, thừa nhận và chứng thực giấy chứng nhận.

–        Đến 2017, các bên tham gia công ước có thể cấp lại, gia hạn và chứng thực giấy chứng nhận theo các điều khoản của Công ước áp dụng trước 1.1.2012.

(Còn tiếp)