Thuyền trưởng Nguyễn Minh Thuyết

1.         Yêu cầu về kiến thức và năng lực Thuyền viên làm việc:

Trên các đội tàu thương mại các nước trên thế giới hiện nay, hoàn toàn khác với giai đoàn thập niên 80 của thế kỷ trước. Ngày nay, lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển tăng lên nhiều lần so với giữa thế kỷ trước, kỷ nghệ đóng tàu phát triển với công nghệ cao, cho phép đóng những con tàu trọng tải tới 750.000 TDW và lớn hơn nữa… Các tàu được trang bị máy móc, thiết bị tối tân theo xu hướng tự động hóa thông tin liên lạc giữa tàu với bờ, giữa tàu với tàu cũng phát triển nhanh chóng nhờ các hệ thống vệ tinh toàn cầu GPS, IMASAT, v.v… Và Hải đồ điện tử càng trở nên bắt buộc phải trang bị đối với các tàu viễn dương.

Thực tiển phát triển ngành vận tải biển đòi hỏi các tàu phải được khai thác điều hành bởi những người quản lý, những sỹ quan, thuyền viên có phẩm chất và năng lực thích hợp, có kỹ năng ứng xử giải quyết sự cố theo trách nhiệm được giao trên cơ sở luật quốc tế vê quản lý an toàn ISM (International Safety Management code) thuyền viên phải được đào tạo huấn luyện theo Công ước quốc tế sửa đổi về tiêu chuẩn huấn luyện cấp chứng chỉ và tiến hành trực ca STCW (The Revised Standards of training Certification and Watchkeeping for Seafare) là những người có trình độ tiếng anh tốt, có thể đáp ứng việc thông tin liên lạc, ký kết hợp đồng, báo cáo sự cố, thực hiện các biểu mẫu trong quản lý và phải có trình độ vi tính giỏi đủ để xử lý các công việc hàng ngày của sỹ quan quản lý trên máy tính.

2.         Nhìn lại những điểm yếu của thuyền viên Việt Nam hiện nay.

Qua nhiều cuộc hội thảo giữa các cơ sở đào tạo, huấn luyện với các công ty vận tải biển và các công ty lao động thuyền viên tàu, đều nhận thấy một thực tế hiện nay đối với thuyền viên Việt Nam còn có những điểm yếu như:

-           Tiếng Anh yếu – chưa đáp ứng được yêu cầu giao dịch, thông tin liên lạc, đọc và hiểu tài liệu chuyên môn, làm báo cáo sự cố, thực hiện chính xác các biểu mẫu hợp đồng thông dụng trong vận tải biển.

-           Năng lực thực hành thao tác nghiệp vụ, xử lý tình huống còn yếu, chậm chạp chưa thành thạo quy trình kỹ thuật, do chưa được huấn luyện thực hành đầy đủ.

-           Sức khỏe và phẩm chất đạo đức chưa đáp ứng yêu cầu của người đi biển xa: tính cộng đồng, tính kỷ luật, tự giác chưa cao.

-           Kiến thức được trang bị cho thuyền viên còn mang nặng tính lý thuyết cơ bản, thay vì phải mang nhiều tính vận dụng, quản lý khai thác hiệu quả bền vững và bảo vệ môi trường; còn nhiều kiến thức cổ xưa mà học viên mất nhiều thì giờ học xong rồi không biết bao giờ sử dụng tới. Trong lúc đó, kiến thức về pháp luật, về công nghệ thông tin về máy tính lại thiếu hụt.

3.         Làm gì

Chúng ta có thể xem lao động thuyền viên là loại hàng hóa đặc biệt, nó phải có chất lượng tốt và độ bền vững cao để có thể thích ứng được với môi trường biển khắc nghiệt và luôn biến đổi.

Bài học từ các quốc gia có truyền thống hàng hải với những chương trình đào tạo và chế độ huấn luyện của họ đã chỉ ra rằng: sự giảm sút về chất lượng và số lượng và số lượng những sỹ quan hàng hải có trình độ và năng lực là do việc tuyển chọn, đào tạo huấn luyện không được nâng cao và cải tiến kịp thời đúng mức.

Với nhận thức vấn đề của một giáo viên - thuyền trưởng tôi nêu lên một số việc cần làm sau đây để các bạn đồng nghiệp của tôi đã từng tham gia và rất tâm huyết với sự nghiệp đào tạo nhân lực cho ngành hàng hải phê phán, bổ sung cho hoàn thiện hơn.

Đội ngũ giáo viên: chúng ta cần đào tạo đội ngũ giáo viên giỏi kiến thức sâu rộng về hàng hải, có chuyên môn, kinh nghiệm làm việc trên biển và có khả năng truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm thực tế, có khả năng tự học, tự nâng cao trình độ của mình, giỏi tiếng Anh và vi tính.

Mục tiêu và chương trình đào tạo – huấn luyện: thuyền viên phải phù hợp với mục tiêu chung của xã hội trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo, đồng thời phải đáp ứng được những yêu cầu mà tổ chức hàng hải quốc tế IMO đã nghiên cứu thảo luận và thông qua bởi các nhà làm luật, các nhà quản lý, các thuyền trưởng, máy trưởng tài giỏi, có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành vận tải biển quốc tế thể hiện trong các văn bản:

-           Công ước quốc tế về an toàn tính mạng trên biển – SOLAS 92.

-           Luật quản lý an toàn và an ninh ISM và ISPS.

-           Tiêu chuẩn huấn luyện cấp chứng chỉ và trực ca STCW sửa đổi (The Revised Standards of Training Certification and Watchkeeping for seafares.)

-           Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra – MARPOL 73/78/97

-           Các giáo trình mẫu của IMO – IMO Model Courses.

Có được mục tiêu và chương trình đào tạo huấn luyện chuẩn Quốc gia thích hợp rồi, trách nhiệm của các trường, các trung tâm, các cơ sở đào tạo cần thay đổi mới hệ thống đào tạo – huấn luyện của mình cho phù hợp với yêu cầu mới; các chương trình đào tạo sẽ thay đổi và cập nhật theo yêu cầu của STCW. Kiến thức yêu cầu để được cấp bằng và chứng chỉ phải phù hợp với giai đoạn hiện tại, nhất là yêu cầu về năng lực mà công ước đòi hỏi phải được áp dụng một cách chính xác, phải thông thạo các kỹ năng làm việc trên tàu, phải thông suốt và hiểu biết về pháp luật hàng hải và luật thương mại.

Phối hợp chặt chẽ giúp đào tạo trên bờ – huấn luyện trên tàu với việc đánh giá, cấp chứng chỉ, bằng cấp cho thuyền viên:

Huấn luyện tốt nhất là những gì được làm gần với thực tế nhất và cách học có hiệu quả là tiếp cận với kinh nghiệm thực tế càng nhiều càng tốt.

Đối với thuyền viên thì được học tập, huấn luyện trên các tàu chạy biển là không thể thiếu được, mặc dù nó không thay thế được những buổi học ở lớp, nhưng nó làm cho lý thuyết trở nên nhẹ nhàng sinh động dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, nó phải bám sát nội dung, yêu cầu các buổi học ở lớp để cụ thể hóa, bổ sung, nâng cao kiến thức và tay nghề.

Hiện nay, chúng ta và nhiều nước trên thế giới đã áp dụng cấp chứng chỉ đánh giá năng lực thuyền viên, nhưng do chúng ta chưa có kinh nghiệm, chưa đào tạo được đội ngũ giáo viên để đánh giá giỏi, công minh các chức danh thuyền viên nên việc làm của chúng ta còn mang nhiều tính hình thức và trong cơ chế thị trường hiện nay lại bị thương mại hóa, đó là điều mà chúng ta không mong muốn. Vì vậy chúng ta nên đề ra những tiêu chuẩn cơ bản để chấp thuận và đánh giá cho các chức danh thuyền trưởng, sỹ quan, hạ sỹ quan và các nhân sự khác trên tàu. Trước khi cấp chứng chỉ về năng lực thuyền viên các cấp, phải đảm bảo rằng học viên đã được hiểu lý thuyết và có kiến thức cơ bản về công việc của họ, rằng họ đã được đánh giá kỹ năng của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Liên kết đào tạo – huấn luyện:

Đào tạo – huấn luyện thuyền viên hiện nay mang tính xã hội quốc gia và tính quốc tế, các quốc gia hàng hải đang phát triển đều chú trọng đến mô hình liên kết đào tạo – huấn luyện giữa các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm đào tạo – huấn luyện với các công ty hàng hải quốc gia để đáp ứng yêu cầu về nhân lực, về năng lực thuyền viên quốc gia mình. Đồng thời cũng chú trọng đến hình thức liên kết đào tạo – huấn luyện giữa các quốc gia cung cấp thuyền viên với các quốc gia sử dụng lao động thuyền viên, để đảm bảo rằng việc đào tạo – huấn luyện đã được thực hiện một cách nghiêm túc, rằng việc đánh giá năng lực thuyền viên là nghiêm khắc, công bằng và rằng các chứng chỉ về năng lực được cấp và được phê duyệt chính thức. Có như vậy, chúng ta mới thực sự tạo nên lòng tin cậy và công nhận tốt về phẩm chất năng lực của thuyền viên Việt Nam, mới có được nhiều hợp đồng thuê thuyền viên.

Cuối cùng, chúng ta cũng nên lưu ý rằng người trồng cây muốn có sản lượng cao, chất lượng sản phẩm tốt họ rất chú trọng đến khâu tuyển chọn giống tốt có khả năng thích ứng với môi trường, chống chọi với sâu bệnh. Đối với thuyền viên cũng vậy, chúng ta nên tuyển chọn những thuyền viên “tốt giống” có truyền thống hàng hải, có khả năng thích nghi và phát triển trong môi trường biển khắc nghiệt và luôn biến đổi.

Giáo viên – Thuyền trưởng Nguyễn Minh Thuyết (1.11.2011)