20120112image001
Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Đích bên tấm ảnh “Con tàu không số”. Ảnh: L.V.T

Cựu chiến binh Nguyễn Xuân ích ở tổ 5, phường Tam Thuận (Thanh Khê - Đà Nẵng) đã nhiều lần làm nhiệm vụ trên đường Hồ Chí Minh trên biển. Bài viết này xin kể lại một chuyến chở vũ khí vào Nam đầy gian nan, thử thách và cuối cùng đã hoàn thành thắng lợi của ông.

Đầu năm 1963, tôi được giao làm máy trưởng trên một chuyến tàu sắt của Đoàn tàu không số. Tàu có 17 thủy thủ, đều là đảng viên, do đồng chí Nguyễn Thanh Trầm làm thuyền trưởng. Sau hơn hai tháng học tập về nhiệm vụ đặc biệt, đầu tháng 3-1963, tàu chúng tôi nhận nhiệm vụ chở 69 tấn vũ khí và 5 cán bộ chi viện cho chiến trường Bến Tre. Cả con tàu được ngụy trang y hệt tàu đánh cá, súng đạn chiến đấu của từng người được che kín dưới các ngư cụ. Ngoài nhiệm vụ máy trưởng, tôi còn là xạ thủ đại liên, súng gắn trên nóc ca-bin được phủ kín bằng những tấm lưới dày và ngụy trang như là đang phơi lưới.

3 giờ ngày 17-3-1963, từ Đồ Sơn (Hải Phòng), tàu đi qua vùng biển gần đảo Hải Nam (Trung Quốc), rồi cắt ra hải phận quốc tế. Từ đó, tàu hướng về phương Nam và liên tục chạy trong sóng to, gió lớn.

Trưa ngày 23-3, tàu đến ngang với vùng biển Bến Tre và chuyển hướng vào bờ. Không ngờ, gió mạnh và sương mù dày đặc làm tàu chạy chệch hướng. Đến 4 giờ ngày 24-3, nhìn qua ống nhòm, chúng tôi thấy lính ngụy đi nghênh ngang ở một hòn đảo phía trước, cách tàu khoảng 17km. Hóa ra… đó là Côn Đảo, chứ không phải bờ! Lập tức, thuyền trưởng cho tàu quay trở ra hải phận quốc tế và sau đó nhận được điện của trên lệnh tiếp tục tiến xuống phía Nam để vào Trà Vinh (vì khu vực bến ở Bến Tre đang bị địch càn quét).

13 giờ ngày 24-3, tàu chúng tôi rẽ phải, hướng vào Trà Vinh. Đến 1 giờ ngày 25-3 thì tàu đột ngột chết máy. Tôi nhanh chóng xác định được nguyên nhân chết máy là do tàu chạy dài ngày, động cơ nóng quá mức cho phép. Anh em bèn mở hết cửa khoang máy, dùng chăn (mền) nhúng nước phủ lên máy, một số người còn lấy nón quạt. Hơn 30 phút, chúng tôi bình tĩnh làm nguội máy, rồi cho khởi động, quả nhiên, máy nổ lại bình thường.

Tàu tiếp tục tiến vào bờ. Đến 4 giờ 30 phút ngày 25-3, chúng tôi đã thấy đất liền, nhưng quan sát mãi vẫn không bắt được tín hiệu của “Bến”. Thuyền trưởng cho 2 đồng chí xuống ghe để vào bờ bắt liên lạc, nhưng bị nước cuốn trôi, anh em trên tàu quăng phao cứu được người, còn ghe thì trôi mất. Trời chuyển về sáng. Tín hiệu của bờ vẫn không thấy, trong khi nước bắt đầu rút xuống (vùng biển này, mỗi ngày thủy triều lên xuống hai lần). Trước tình thế cấp bách, thuyền trưởng quyết định nhờ một ngư dân (đang canh giữ lưới) lên tàu chỉ đường chạy vào vùng giải phóng. Nhưng khi còn cách bờ chừng 200m thì tàu bị mắc cạn. Đồng chí Nguyễn Vinh được giao nhiệm vụ bơi vào bờ để bắt liên lạc với “bến”, còn tất cả anh em giả làm những động tác như ngư dân xử lý tàu mắc cạn. May mắn là đồng chí Vinh đã nhanh chóng bắt gặp được anh em “bến”. Lúc này đã 5 giờ 30 phút. Chi ủy quyết định chọn 2 đồng chí ở lại tàu để sẵn sàng chiến đấu và nổ hủy tàu khi cần thiết, còn lại lên bờ để bảo toàn lực lượng. Tất cả đều giơ tay xin ở lại, nhưng xét thấy tàu đang bị mắc cạn, có thể ảnh hưởng máy móc, nên Chi ủy chọn máy trưởng và máy phó ở lại để tiện xử lý nếu có sự cố kỹ thuật.

15 thủy thủ và 5 cán bộ khẩn trương rời tàu. Vừa lúc đó, “Bến” đã đưa hàng trăm dân công đến, dùng thuyền nhỏ chở vũ khí vào bờ. Tôi phân công đồng chí Nguyễn Rôm (máy phó) ở trên boong tàu vừa cảnh giới, vừa hướng dẫn dân công bốc hàng. Còn tôi ngồi trên nóc ca-bin, chăm chú quan sát để kịp thời phát hiện máy bay và tàu địch các loại.

Khi ở lại tàu, tôi được giao giữ hai bộ phận gây nổ. Một là kíp điện để gây nổ ngay (hủy cả tàu lẫn người), hai là kíp nổ bằng dây cháy chậm (sau khi điểm hỏa 15 phút mới nổ). Mỗi chúng tôi khi đi làm nhiệm vụ trên “Tàu không số” đều xác định sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc, nhưng bây giờ thì “nó” đã cận kề trước mắt tôi. Ngày hôm ấy đối với tôi là một ngày căng thẳng nhất trong đời và thời gian trôi lâu bằng cả thế kỷ!

Lực lượng dân công bốc dỡ hàng đến quá trưa mới xong và khoảng 14 giờ thì nước lớn trở lại. Theo hướng dẫn của “Bến”, tàu chúng tôi chạy sâu vào trong vùng căn cứ giữa rừng đước um tùm. Một trung đội quân giải phóng khẩn trương chặt cây lá ngụy trang cho tàu.

Chúng tôi ở lại đó hơn nửa tháng trong sự chăm sóc, quý mến đặc biệt của anh em “Bến” và nhân dân trong vùng. Một đêm cuối tháng 4-1963, tàu chúng tôi lại bí mật cắt ra hải phận quốc tế để trở về với hậu phương lớn. Trước khi tàu nhổ neo, anh em “Bến” đã vác đất chất vào hầm hàng để dằn tàu và để tránh sự nghi ngờ của địch, nếu chúng nhìn thấy con tàu nổi trên mớm nước.

____________________

(Ghi theo lời kể của ông Nguyễn Xuân Đích)