CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ TÀU KÉT 

VÀ TỰ ĐÁNH GIÁ , PHIÊN BẢN MỚI TMSA3 2017

                                                                                                               Thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh  

Các công ty vận tải dầu khí của Việt nam đang đứng trước những thách thức nặng nề khi vươn ra thị trường quốc tế. Nhiều công ty vẫn đang lúng túng trong việc triển khai các chương trình quản lý tiên tiến theo yêu cầu của OCIMF. Vấn đề đặt ra không chỉ là thiếu hiểu biết chương trình quản lý mà OCIMF áp đặt mà còn nhiều lý do khác, có thể nói một cách tổng quát là lỗi hệ thống …   

Cần phải vứt bỏ tư duy quản lý mang tính hình thức, thiếu trách nhiệm, hòa cả làng nhanh chóng bằng mọi giá triển khai TMSA3 nhắm tới mục tiêu quản lý tổng hợp HSEQ, thì mới thâm nhập hiệu quả thị trường thế giới.

Người viết xin đóng góp một vài ý kiến để tìm hiểu TMSA3 là gì.

 

LÝ DO RA ĐỜI CỦA TMSA  VÀ PHIÊN BẢN TMSA2

 

Trước khi tim hiểu những thay đổi bổ sung trong TMSA3 của Chương trình Quản lý tàu két và tự đánh giá (Tanker Management and Self Assessment-TMSA), thiết nghĩ cũng cần nhắc lại lịch sử ra đời  của chương trình này.

Lướt qua các khu vực có sản lượng dầu lớn, các giếng dầu, các nhà máy lọc dầu, các cảng dầu trên khắp thế giới không khó khăn để nhận ra rằng hầu hết chúng đều thuộc sở hữu của một số lượng không nhiều các hãng dầu lớn. Các hãng này dựa vào ưu thế công nghệ tiên tiến, đi trước và làm chủ lĩnh vực khai thác, chế biến dầu  khí. Họ đã chiếm lĩnh hầu hết các nguồn tài nguyên dầu khí trên thế giới và đương nhiên họ cũng khống chế quyền vận tải dầu khí toàn cầu.

Vào khoảng năm 1970, các hãng dầu lớn trên thế giới tập hợp lại thành một tổ chức chuyên ngành Dầu khí gọi là “Diễn đàn Hàng hải quốc tế các công ty dầu” (Oil Companies International Marine Forum- OCIMF). Qua hơn 30 năm phát triển, sức mạnh của OCIMF ngày càng lớn, nó tập hợp được 61 thành viên tự nguyện là các hãng dầu trên khắp thế giới, mà đứng đầu là bốn hãng hàng đầu được sáp nhập từ bảy công ty dầu khí, trong đó SHELL là một thương hiệu lâu đời nhập lại từ Công ty Dầu khí hoàng gia Anh và Hà Lan; BP AMOCO sáp nhập từ  BP và AMOCO; CHEVRON TEXACO sáp nhập từ CHEVRON, TEXACO và CALTEX, và cuối cùng EXXONMOBIL được sáp nhập từ EXXON và MOBIL. Trong số đó, trừ EXXONMOBIL có văn phòng chính đặt tại Mỹ, văn phòng chính của ba “đại gia” còn lại đều đặt tại London.

TMSA, ban đầu được đưa ra bởi một số hãng dầu lớn, nhưng sau đó được hầu hết các thành viên của OCIMF chấp nhận. Cuối cùng thì OCIMF đã thống nhất cùng nhau xây dựng TMSA làm tiêu chuẩn để đánh giá và kiểm tra công tác quản lý của các công ty vận tải dầu khí và những tàu vận tải dầu khí khác trên toàn thế giới. TMSA được đưa ra áp dụng chính thức lần đầu từ năm 2004  và đó là phiên bản thứ nhất.

Mặc dù TMSA không phải là một cơ chế bắt buộc như ISM Code, nhưng vì các hãng dầu lớn đã khống chế hầu như toàn bộ nhà máy lọc dầu, cầu cảng, kho, bồn chứa dầu, nếu không có sự kiểm tra và công nhận của họ thì các công ty vận tải dầu khí khó lòng tìm được thị trường, chân hàng, giá cước cạnh tranh. Do đó, các công ty vận tải dầu khí muốn trụ vững và hoạt động hiệu quả buộc phải chấp nhận các tiêu chi quản lý mới.  TMSA đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Các công ty vận tải dầu khí bắt buộc chấp nhận sự đánh giá và kiểm tra xếp hạng của các hãng dầu lớn. 

Có thể đăt ra một câu hỏi, phải chăng ISM Code đã không đáp ứng yêu cầu của OCIMF ?. Từ năm 1998, Bộ luật Quản lý an toàn quốc tế (ISM Code) của IMO bắt đầu có hiệu lực, là cơ sở luật pháp của việc quản lý an toàn và bảo vệ môi trường cho tất cả các công ty vận tải biển trên thế giới, trong đó có vận tải dầu khí. Nó là một bộ luật bắt buộc phải áp dụng ở tất cả các công ty vận tải biển và trên tất cả các tàu vận tải theo công ước quốc tế.

 

Tuy nhiên dưới con mắt của các hãng dầu lớn, ISM Code chỉ quy định những yêu cầu cơ bản tối thiểu trong quản lý an toàn và bảo vệ môi trường, các Văn bản/Sổ tay cùng những Quy trình tác nghiệp đều sử dụng chung cho các công ty vận tải, nó tạo ra một sân chơi đồng mức cho tất cả các công ty vận tải nói chung, trong đó có vận tải dầu khí. Qua nhiều năm thực hiện, ISM Code đã phát huy tác dụng nhất định trong nhận thức về quản lý an toàn, giảm thiểu các sự cố, tai nạn. Tuy nhiên, cũng không khó nhận ra rằng ISM Code đã không thể hiện những lợi ích ngay tức khắc - người ta than phiền ISM Code chạy theo giấy tờ quá nhiều trong khi các tai nạn hàng hải vẫn còn xảy ra. Nói chung nó được triển khai để có giấy chứng nhận theo cách này hay cách khác nhưng sau đó các công ty phải tiếp tục “chiến đấu”, có khi là vô vọng, để cố thỏa mãn yêu cầu tối thiểu của Bộ luật này.

Các tiêu chuẩn quản lý của TMSA đặt ra cao hơn ISM Code rất nhiều. Để triển khai TMSA hiệu quả, OCIMF đã đưa ra một chương trình tỷ mỷ toàn diện gồm nhiều yếu tố và  được thực hiện theo bốn cấp độ khác nhau tùy theo trình độ quản lý. Theo đó, giả sử, nếu như một công ty thực hiện triệt để và đầy đủ ISM Code thì trình độ quản lý an toàn và bảo vệ môi trường của công ty đó cũng chỉ đạt được cấp độ 1 trong 4 cấp độ của TMSA mà thôi. Các cấp độ tiếp theo của nó là  những bước phát triển rất cao về quản lý. TMSA là  hệ thống kết hợp nhuần nhuyễn SOLAS, MARPOL, ISM Code, STCW, ISO 9001,  ISO 14000:2004 (MT), OHSAS 18000 (Tiêu chuẩn quốc tế về an toàn sức khỏe nghề nghiệp - Occupation Health and Safety Assessment Series)

.     Ngoài ra, chúng ta đều biết rằng, trước khi TMSA ra đời, OCIMF cũng đã áp dụng “Chương trình trao đổi báo cáo kiểm tra tàu” (Ship Inspection Report Exchange - SIRE). Theo chương trình này, các hãng dầu lớn yêu cầu các Đại lý dịch vụ kiểm tra độc lập tiến hành kiểm tra (thuật ngữ trong ngành vận tải dầu khí gọi là vetting) trực tiếp và nghiêm ngặt tại các tàu két theo nội dung gồm gần 500 câu hỏi (VIQ) đã được công bố rộng rãi, với định kỳ 6 tháng/lần, thậm chí ngắn hơn tùy theo  tuổi tàu. Các báo cáo kiểm tra được đệ trình cho OCIMF qua Website của tổ chức này. Mọi thành viên của OCIMF có thể tiếp cận tham khảo để quyết định có chấp nhận thuê hay không con tàu đã được kiểm tra.

SIRE có vẻ như là một hệ thống kiểm tra chặc chẽ, nghiêm túc. Tuy nhiên, OCIMF lại nhận xét rằng mỗi lần “vetting” tàu thường chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, là những quan sát thoáng qua của chuyên viên kiểm tra như kiểu cưỡi ngựa xem hoa, kết quả kiểm tra cung cấp không đầy đủ những thông tin cần thiết cho người thuê tàu/hãng dầu lớn để họ đánh giá nguy cơ rủi ro trên tàu và trình độ quản lý của công ty. Họ cho rằng chỉ có chương trình TMSA mới giúp các hãng dầu lớn xác nhận những yêu cầu cơ bản trong việc quản lý tàu xuất sắc (excellent), trong đó bao gồm hàng loạt vấn đề về quản lý thuyền viên, nhân viên, đào tạo huấn luyện, bảo dưỡng, đánh giá rủi ro, điều tra tai nạn, văn hóa doanh nghiệp, cải tiến quản lý,... cả trên tàu và ở văn phòng.

TMSA là một công cụ hỗ trợ cho các công ty vận tải dầu khí để đánh giá, đo lường và cải tiến hệ thống quản lý của họ. Nó là công cụ mà các thành viên OCIMF sử dụng để giám sát, kiểm tra các công ty vận tải dầu khí.

Mục tiêu của TMSA mà các hãng dầu lớn đưa ra, có thể khái quát:  

-  Công việc vận chuyển dầu khí trên biển phải đạt được tiêu chí an toàn, sạch, hiệu quả, không xảy ra sự cố và đáng tin cậy;

-  Khuyến khích và ủng hộ các công ty quản lý tàu nhắm tới sự cải tiến liên tục;

-  Các hãng dầu lớn chỉ kinh doanh với những công ty vận tải dầu khí có chất lượng quản lý cao.

Chính vì những lý do nói trên mà cho đến nay TMSA vẫn được duy trì song song, đồng thời  với ISM Code và SIRE.

Phiên bản dầu tiên của TMSA ra đời tháng 1.2004  đã thể hiện các mục tiêu nói trên. Phiên bản TMSA2, được OCIMF tung ra cuối năm 2008 với nhiều điều chỉnh bổ sung.

Dựa trên cơ sở 12 yếu tố của TMSA, TMSA2 đã sửa đổi thể hiện  thành các yếu tố  quản lý   chi tiết hơn như  sau:

       Yếu tố 1 – Quản lý, lãnh đạo và giải trình trách nhiệm (Management, Leadership and Accountability)

       Yếu tố 1A – Quản lý, lãnh đạo và giải trình trách nhiệm (Management, Leadership and Accountability)

       Yếu tố 2 – Tuyển dụng và quản lý nhân sự văn phòng (Recruitment and Management of Shore-Based Personnel)

       Yếu tố 3 - Tuyển dụng và quản lý nhân sự trên tàu (Recruitment and Management of Vessel    Personnel)

       Yếu tố 3A - Tuyển dụng và quản lý nhân sự trên tàu (Recruitment and Management of Vessel    Personnel)

       Yếu tố 4 - Độ tin cậy và tiêu chuẩn bảo dưỡng  (Reliability and Maintenance Standards)

       Yếu tố 4A - Độ tin cậy và tiêu chuẩn bảo dưỡng các thiết bị thiết yếu (Reliability and Maintenance Standards (Critical Equipment)

       Yếu tố 4B – Độ tin cậy và tiêu chuẩn bảo dưỡng  (Reliability and Maintenance Standards   (Close out Performance)

       Yếu tố 5 – An toàn hàng hải  (Navigational Safety)

       Yếu tố 6 – Các tác nghiệp hàng hóa và nước dằn (Cargo and Ballast Operations)

       Yếu tố 6A – Các tác nghiệp buộc tàu (Mooring Operations)

       Yếu tố 7 –  Quản lý sự thay đổi (Management of Change)

       Yếu tố 7A -  Quản lý sự thay đổi  (Management of Change)

       Yếu tố 8 – Điều tra và phân tích sự cố (Incident Investigation and analysis)

       Yếu tố 8A – Điều tra và phân tích sự cố - Huấn luyện (Incident Investigation and Analysis – Training)

       Yếu tố 9 - Quản lý an toàn – Giám sát  văn phòng (Safety Management – Shore Based Monitoring)

       Yếu tố 9A - Quản lý an toàn – Giám sát đội tàu (Safety Management – Fleet Monitoring)

       Yếu tố 10 –  Quản lý môi trường (Environmental Management)

       Yếu tố 10A – Quản lý môi trường (Environmental Management)

       Yếu tố 11 – Sẵn sàng ứng phó tình huống khẩn cấp và  lập kế hoạch ứng phó sự cố bất ngờ (Emergency Preparedness and   Contingency Planning)

       Yếu tố 11A – Sẵn sàng ứng phó tình huống khẩn cấp và  lập kế hoạch ứng phó sự cố bất ngờ (Emergency Preparedness and Contingency Planning)

       Yếu tố 12 -  Đo lường, phân tích và cải tiến (Measurement, Analysis and Improvement)

       Yếu tố 12A - Đo lường, phân tích và cải tiến  (Measurement, Analysis and Improvement)

(Lưu ý: các yếu tố trùng lập tuy cùng chủ đề nhưng tiêu chí khác nhau)

Các yếu tố của TMSA2 được triển khai thực hiện thông qua 245 KPI (Key Performance Indicators -Tiêu chí nghiệp vụ then chốt). Mỗi KPI đều có kèm theo Các hướng dẫn thực hiện tốt nhất (BPG - Best-Practice Guidance).. Mỗi yếu tố nói trên được triển khai thực hiện lần lượt theo 4 cấp độ (Stage), cấp độ sau có mục tiêu quản lý cao hơn cấp độ trước. Trong quá trình cải tiến quản lý, có thể thông qua kết quả  đánh giá, đo lường từng KPI ở mỗi cấp độ để xác định các khe hở  tồn tại trong quản lý, từ đó có thể xây dựng một kế hoạch khắc phục, cải tiến liên tục, từng bước nhắm tới mục tiêu quản lý an toàn và bảo vệ môi trường theo như chính sách công ty đề ra. Khái niệm về đánh giá rủi ro, quản lý sự thay đổi,... trở thành một nội dung không thể thiếu được trong TMSA.

H2

TMSA đưa ra cơ chế các công ty tự đánh giá công tác quản lý, tự xếp hạng công ty mình. Việc tự đánh giá, đo lường và xếp hạng được thực hiện sau khi đã triển khai một cách bài bản và tỉ mỉ từng tiêu chí, bằng cách nhiều lần xem xét nội bộ, chấn chỉnh, cải tiến quản lý. Trên cơ sở đó một báo cáo kết quả thực hiện được đệ trình lên OCIMF qua Website của họ. Bước tiếp theo, Công ty mời các hãng dầu lớn đánh giá và xếp hạng đẳng cấp TMSA của công ty và chịu chi phí. Chính đẳng cấp này sẽ xác nhận công ty vận tải có đủ tư cách vận chuyển hàng hóa cho các hãng dầu lớn hay không và mức cước phí vận tải cao thấp ra sao. Công ty được xếp hạng càng cao thì cơ hội giành nguồn hàng càng lớn và giá cước cạnh tranh càng cao.

Sự biến động của thị trường vận tải dầu khí trên thế giới thường gây ra những cú sốc cực mạnh cho các công ty vận tải, mà sự biến động mạnh, tăng giảm thất thường giá dầu thô vào giữa năm 2008 cho đến nay là một ví dụ sống động. Vậy, làm thế nào để vượt qua sóng gió có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào để giành lợi nhuận cao là một thách thức lớn đối với các công ty vận tải dầu khí. Nếu TMSA của công ty được xếp hạng ở đẳng cấp cao cũng đồng nghĩa công ty đó được đảm bảo nguồn hàng vận chuyển, ngay cả khi thị trường vận tải ở giai đoạn suy giảm tận “đáy sóng”. Có nghĩa là một công ty vận tải dầu khí xếp hạng cao sẽ có sức đề kháng mạnh trong bất cứ điều kiện nào của thị trường.

          Không rõ các hãng dầu lớn còn đưa ra “chiêu” gì nữa trong tương lai, nhưng rõ ràng TMSA là cánh cửa hẹp, khó lách  mở ra  cơ hội phát triển cho các công ty vận tải dầu khí. Nội dung của nó đảm bảo nâng cao, cải tiến không ngừng phương thức quản lý theo những tiêu chuẩn quốc tế, vứt bỏ cách quản lý mang tính hình thức, thiếu trách nhiệm, nhắm tới mục tiêu quản lý tổng hợp HSEQ (sức khỏe, an toàn, môi trường và chất lượng) của công ty vận tải dầu khí một cách thực chất, nghiêm túc.

TMSA3 LÀ SỰ TÍCH HỢP GIỮA SIRE VỚI TMSA

Năm 2017 các công ty vận tải dầu khí đang áp dụng TMSA sẽ chứng kiến hai sự kiện đáng kể theo quyết định của OCIMF. Vào tháng 2 năm 2017 TMSA đã được tích hợp và gắn liền với SIRE gọi là Chương trình SIRE / TMSA, và  ấn bản TMSA3 đã ra đời  ngày 10 tháng 4 năm 2017.

  Việc kết hợp SIRE và TMSA là một thay đổi quan trọng. Chương trình SIRE / TMSA tích hợp sẽ cung cấp một địa chỉ duy nhất  duy trì tất cả các dữ liệu liên quan đến công việc quản lý điều hành kỹ thuật của tàu, bao gồm kiểm tra tàu biển, bảng câu hỏi chi tiết của tàu (VPQ), báo cáo về thuyền viên  và quản lý sự cố… Việc tích hợp này đã tận dụng lợi thế của công nghệ mới nhất áp dụng các phương pháp bảo mật cải tiến từ kinh nghiệm người sử dụng.

Từ ngày 1 tháng 2 năm 2017, chương trình TMSA độc lập trước đây không còn được sử dụng để quản lý các văn bản tài liệu TMSA. Tất cả các thành viên OCIMF thời gian đó có thể  chuyển các tài khoản TMSA của họ sang chương trình SIRE / TMSA tích hợp mới. Sau khi chuyên tài khoản, tất cả các báo cáo TMSA2 hiện tại và trong quá khứ đều chứa chung trong khung nền mới của SIRE. Trong tương lai tất cả công tác quản lý TMSA sẽ thực hiện thông qua SIRE  và không còn trực tiếp với TMSA nữa. 

Phiên bản mới nhất TMSA3 đã được OCMF công bố và  xuất bản thành sách. Kết cấu của ấn phẩm mới này về hình thức cũng giống như TMSA2 trước đây nhưng các thuật ngữ rõ ràng và chuẩn xác hơn, ngôn ngữ cũng nhất quán hơn làm cho việc tự đánh giá dễ dàng hơn, thúc đẩy việc cải tiến liên tục.

So với các yếu tố của TMSA2,  những thay đổi  trong phiên bản TMSA3 gồm có:

    Mở rộng các “Hướng dẫn thực hành tốt nhất” (BPG) để thực hiện các KPI.
    Sửa đổi các “Hướng dẫn thực hành tốt nhất”  để loại bỏ sự mơ hồ và trùng lắp.
    Các yếu tố được sắp xếp hợp lý hơn và ghép lại để cải thiện sự nhất quán và làm cho việc tự     đánh giá dễ dàng hơn.
    Loại bỏ tùy chọn đánh dấu các KPI khi không áp dụng.
    Giới thiệu yêu cầu về các quy định pháp luật mới của ngành đã được cập nhật, bao gồm các sửa đổi của Manila đối với Công ước Lao động Hàng hải năm 2006, Bộ luật Địa cực và Công ước về Quản lý Nước dằn.
    Sửa đổi các yếu tố 6 và 6A - hàng hoá, nước dằn, dọn vệ sinh két, cấp nhiên liệu, các tác nghiệp buộc tàu va neo, cùng với các bổ sung  KPI và ‘Hướng dẫn thực hành tốt nhất’.
    Sửa đổi yếu tố 10 - Quản lý Môi trường và Năng lượng (trước đây là Quản lý Môi trường) kết hợp với văn bản Quản lý năng lượng và nhiên liệu của OCIMF mà trước đây đã bổ sung cho TMSA2.
    Thêm một yếu tố mới:  Yếu tố 13 - An ninh Hàng hải.

Kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2017 TMSA3 sẽ bắt đầu có hiệu lực. Từ đó cho đến ngày 31 tháng 12 cùng năm người dùng sẽ có tùy chọn để tiếp tục sử dụng TMSA2 hay bắt đầu sử dụng TMSA3. Khi sử dụng TMSA3 cho người dùng lần đầu tiên sẽ có tùy chọn để bắt đầu một TMSA mới từ một mẫu trống hoặc chuyển dữ liệu từ TMSA2 sang định dạng TMSA3. Chuyển đổi 'TMSA2 sang  TMSA3' cũng sẽ tiếp tục đến 31 tháng 12 năm 2017. Để được trợ giúp về cách thực hiện điều này, vui lòng xem phần 10 của Hướng dẫn  “TMSA3 Fast Facts”  của Nhà quản lý SIRE hoặc liên hệ với siresupport@ocimf.org.

Cũng giống như TMSA2, TMSA3 áp dụng rộng rãi cho tất cả các nhà quản lý khai thác kỹ thuật tàu đăng ký tại SIRE. Để bắt đầu viết báo cáo TMSA3 lần đầu tiên, hãy thực hiện theo các hướng dẫn trong chương trình SIRE.

TMSA

Từ ngày 1 tháng 1 năm 2018, tất cả các báo cáo TMSA2 còn lại sẽ được lưu trữ và không thể truy cập để chỉnh sửa được nữa.

Các nhà quản lý khai thác kỹ thuật tàu biển sẽ có quyền tiếp tục kiểm soát đối với những người  xem/tải xuống báo cáo TMSA đã phát hành. Điều này có nghĩa là họ sẽ có lựa chọn có nên công khai báo cáo cho tất cả các công ty thành viên OCIMF đã đăng ký hay chỉ cho phép các công ty được lựa chọn xem/tải xuống báo cáo của họ.

Có thể nói, TMSA là “cái bậc thềm” cao vời vợi về các tiêu chuẩn quản lý mà các hãng dầu lớn quốc tế thiết lập, áp đặt lên các công ty vận tải dầu khí, nó biểu trưng cho sức mạnh cạnh tranh của các công ty vận tải dầu khí trên thị trường - Ai vượt qua “cái bậc thềm” đó có nghĩa là trình độ quản lý của công ty đã đạt tiêu chuẩn quốc tế của các hãng dầu lớn, cũng đồng nghĩa với cơ hội và vị thế của công ty vận tải dầu khí được nâng cao về cạnh tranh hàng hóa, dịch vụ, giá cước trên thị trường vận tải dầu khí ở khu vực và trên thế giới. TMSA là thách thức to lớn của tất cả các hãng vận tải dầu lớn nhỏ trên thế giới trong đó có các công ty của Việt nam./.